Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Phim Lô (Tiếp và hết)

Khóc lóc, khuyên can thế nào cũng không được, hai ông bà đành phải đưa con đến gặp Già làng. Một không khí hy vọng nhưng u uất lan truyền, cả làng gấp rút chuẩn bị cho cậu lên đường.
Hội vẫn mở, trống chiêng vẫn đánh thâu đêm, đuốc thắp khắp làng nhưng người ta bí mật rút bớt những miếng ngon của Rồng để làm cho cậu một bữa rồi tiễn tráng sỹ đến tận đầu làng. Những người cuối cùng dừng bước, tay vẫy, tay gạt nước mắt là cả nhà thằng bạn.
Tráng sỹ tay cầm đao, cưỡi trên lưng con tuấn mã đẹp và khỏe nhất vùng, ba con la đi trước thồ lỉnh kỉnh những hòm, những thùng, những bao tải.
Đường đi càng xa càng gập ghềnh hiểm trở, những bộ xương người xương ngựa xuất hiện ngày càng nhiều. Những con rắn khổng lồ, những con hổ đói điên cuồng lao tới chực ăn sống nuốt tươi cả người cả ngựa. Tất cả chúng đều bị khuất phục dưới lưỡi đao điêu luyện và mạnh mẽ của tráng sỹ. Bốn ngày bốn đêm qua đi cùng bao hiểm nguy, cuối cùng đoàn người ngựa cũng lên được đỉnh núi.
Một cửa động uy nghi hoành tráng mở ra ngay sau cái sân bát ngát bằng đá phẳng lừ. Mây chờn vờn qua lại, khí se lạnh linh thiêng, không một bóng chim, không cả một tiếng côn trùng. Tất cả là uy nghiêm nhưng lạnh lẽo đến rợn người.
Tráng sỹ xuống ngựa, vươn vai hít căng lồng ngực rồi cầm đao hiên ngang bước vào động. Vòm đá vời vợi, những nhũ đá như những lưới mác nhọn hoắt như hướng cả về cậu đe dọa. Ánh sáng không đủ hắt vào phía trong tối om, tráng sỹ thận trong dừng chân cất tiếng gọi.
-Rồng đâu?
Muông ngàn tiếng vọng đáp lại, đồng thời muôn ngàn những con dơi đen xì từ bóng tối lao ra, từ trên vòm lao xuống bổ cả về phía cậu với những tiếng kêu thảm thiết, man rợ. Tráng sỹ vội về thế, múa đao tít mù, tiếng đao xé không khí kêu vun vút, những con dơi rú lên rụng lả tả, những con khác biến mất khỏi cửa hang. Ánh sáng yếu ớt trở lại đủ để thấy máu loang lổ trên sàn, những thân dơi giẫy giụa.
Một tia sáng vàng chói, lóe ra từ âm u trong hang, lớn dần, lớn dần cho đến khi cửa hang mở hết, ánh sáng vàng rực rỡ hắt ra làm cả động bừng sáng lung linh. Tráng sỹ giơ tay che mắt cũng là lúc Rồng đen xì, đường bệ bước ra, hai tay cầm hai cây chùy với những cái đinh nhọn hoắt, hai chân sau bước chắc nịch, khi một chân nhấc lên, những chiếc móng cong nhọn được quắp lại như giấu đi, khi chạm đất nó lại xòe ra vững chãi.
Rồng đảo mắt qua những hòm những thùng chưa đầy lễ vật, con mắt cú vọ thấy cả những thoi vàng nén bạc sau lớp gỗ, hắn mỉm cười gật gù. Ánh mắt dừng lại nơi tráng sỹ, bộ mặt khôi ngô, bắp cơ cuồn cuộn.
Rồng liếm mép, ngẩng mặt lên trời cười vang thỏa mãn làm rung chuyển cả hang động, đá đổ rào rào. Rồng đứng hẳn lên trên cái đuôi, chuyển hai quả chùy cho chân sau rồi bổ xuống.
Nhanh như cắt, tráng sỹ né người rồi giáng thẳng cánh một đao xuống đầu rồng, lửa tóe lên khét lẹt. Bị đánh bất ngờ Rồng choáng váng quay lại, hai cây chùy được chuyển đi chuyển lại qua bốn chân vô cùng linh hoạt.
Một trận đấu không cân sức diễn ra, đao chùy chạm nhau xoang xoảng, lửa tóe lên rồi lại vụt tắt. Thương tích trên mình cả hai bên ngày càng nhiều. Nhiều lần rơi vũ khí, nhiều lần cả hai lùi lại, tựa vào vách đá mà thở dốc rồi lại lăn xả vào nhau. Cuối cùng, Rồng tung người quay tít, cái đuôi quật mạnh vào sườn tráng sỹ, vừa bị cái đuôi quật lại bị bắn người vào vách đá, máu từ các vết thương chảy nhiều, tráng sỹ tả tơi loạng choạng gượng dậy..., rồi lại bủn rủn gục xuống.
Bên kia, sau một hồi thở dốc, Rồng rú lên man rợ rồi bổ xuống vồ lấy tráng sỹ. Lúc này, toàn thân chàng đã mềm nhũn trên mặt đất nhưng chỉ có mắt sáng quắc không rời từng động tác của Rồng. Đúng cái lúc cả cái thân hình to lớn đang đổ xuống, chàng dùng cả hai tay và tất cả sức sống còn lại phóng mũi đao lên..., Rồng đổ xập xuống nền đá, mũi đao xuyên từ ngực qua lưng. Những móng vuốt rung lên bần bật, cào cấu xuống nền đá rồi duỗi dần..., duỗi dần…
Loạng choạng đứng dậy, lảo đảo bước vào hậu cung, những mệt mỏi nhanh chóng tan biến..., trước mắt chàng là cả một đống những đồng tiền vàng to như đống rơm, ánh sáng từ những đồng tiền ấy nhấp nháy như cung điện trong mơ. Chàng bước quanh để ngắm những đốm sáng lóe lên, vụt tắt rồi lại lóe lên, bất giác chàng mỉm cười mãn nguyện.
Cúi nhặt một đồng tiền, ngắm nghía rồi tung nó lên, đồng tiền múa tít trên không rồi rơi xuống, vàng va vào nhau phát ra tiếng động lạ tai rồi những tiếng vọng dội lại từ những vách đá gần xa. Chàng nghiêng đầu lắng nghe và lại mỉm cười ngây thơ. Dùng hai tay vốc tiền tung lên chàng thấy âm thanh to hơn và dày hơn, âm dội lại ào ào. Chàng quỳ xuống, sục hai tay vào vàng nâng lên cho dòng tiền chảy qua kẽ tay.
Cứ thế..., cứ thế..., bỗng chàng giật mình khi thấy trong vàng, tay chàng biết thành tay rồng. Rút ra..., vẫn tay chàng, sục vào..., lại tay rồng. Như trong cơn mơ, chàng cởi áo định tắm mình trong vàng... Bỗng có tiếng nói yếu ớt.
-Xin tráng sỹ dừng tay...!
Dùng hết chút sức cuối cùng, Rồng lết vào đến cửa hậu cung. Tráng sỹ hết sức ngạc nhiên.
-Ngươi...! Ngươi ..., nói được tiếng người...?
-Phải! Ta nói được tiếng người vì ta đã từng là người.
Yếu đuối và rời rạc, Rồng kể lại.
Trước kia, cũng từ một mái tranh nghèo như nhà chàng, có một cậu bé cũng khôi ngô tuấn tú như chàng chỉ khác là anh ta dùng chùy với sức mạnh vô song. Cũng ngạc nhiên trước sự cam chịu của dân làng, cũng uất ức trước sự ngang ngược, tàn bạo của Rồng anh cũng tình nguyện ra đi trừ họa cho dân và anh cũng đã ra đi trong sự chăm sóc, đùm bọc, yêu thương, mang theo tất cả hy vọng của dân làng...
Anh đã chiến đấu ròng rã bốn ngày bốn đêm, cũng có lúc tưởng như không thể gượng dậy được nhưng cuối cùng anh vung chùy với tất cả sức mạnh của lòng căm giận bổ xuống đầu Rồng. Rồng cũng đã rãy lên tuyệt vọng.
Anh cũng vào hậu cung và cũng xúc tay vào vàng, cũng thấy biến thành tay rồng và rồng cũng đã can ngăn nhưng anh đã không thể kiềm chế.
Sau khi tắm mình vào vàng, anh đã biến thành rồng và không thể trở lại làm người được nữa.
Kể đến đấy thì Rồng tắt thở....!


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

NÉM ĐÁ...!

Tôi có ông chú họ, ông này học Vô tuyến điện Bách khoa rồi về Đài tiếng nói Việt nam, hình như đến trước khi về hưu cũng giữ một cái ghế gì kha khá trong đài. Năm 1976 ông dành dụm mua cho mẹ cái ti vi National bốn chân hai cửa lùa, đương nhiên, nó là cái đầu tiên của làng.
Ngày ấy, hình như ti vi chỉ phát mấy ngày trong tuần.
Sau một buổi chiều hì hục nào ổ cắm nào ăng ten, rồi sửa, rồi chỉnh cuối cùng, với tay nghề của ông, hình người cũng xuất hiện trong ti vi.
Bà tôi, cô tôi đun nồi nước thật to, cốc và bát được rửa sạch lau khô úp vào cái rổ xề để sẵn dưới gốc hồng xiêm, tất cả chiếu được huy động cho những người ngồi bệt trước màn hình, tất cả ghế cũng được huy động cho những người ngồi xa hơn.
Năm rưỡi đã có người đến chiếm chỗ, chuyện trò tíu tít, mặt mũi ai nấy hớn hở, người ta khoái vì được xem miễn phí, bà tôi, cô tôi, chắc cũng khoái vì hãnh diện. Trước bảy giờ, chẳng còn một chỗ ngồi, bọn trẻ con trèo lên cây hồng xiêm vừa xem vừa chửi nhau chí chóe.
Hết giờ, mọi người phủi đít đứng dậy..., chào mỗi người một câu cũng đủ khản cả giọng. Cất cái ti vi vào nhà, cái sân tơi tả như sân chợ sau phiên, bát cốc mỗi nơi một cái, cái đứng còn nước, cải đổ thâm chiếu, cái vỡ mảnh không biết ở những đâu, vỏ khoai lang, giong giềng, hạt bí, đầu mẩu thuốc lá cuốn, xỉ thuốc lào…Thôi! ấp tạm vào đấy để đến mai...
Hai tháng, bà và cô tôi rạc cả người, mắt lờ đờ thiếu ngủ, công việc bỏ bê, cứ nghĩ đến ti vi là hãi hùng, nhưng… chả nhẽ! Chủ nhật, ông Thụy về, ông Tú làu bàu.
-Anh xem thế nào chứ… mẹ ốm mất...!
Nhìn mặt mẹ và chị, rồi ở nhà chứng kiến một đêm, ông Thụy hết hồn. Suy đi tính lại ông kéo thằng em rỉ tai.
-Để tao lắp vào trong buồng, buổi tối, mày chịu khó ra đứng ngoài cổng, thấy ai đến thì nhẹ nhàng thông báo là ti vi hỏng, chờ tao về mang đi sửa, khi nào được lại mời bà con đến xem… Nghe chửa...! Rồi chờ đến tám rưỡi hãy mở cho mẹ xem phim, xem thời sự làm gì… Nghe chửa...?
Ông Tú thực hiện đúng lời anh, bà con chẳng vui nhưng cũng phải quay về, bọn trẻ con thì không, chúng nó lảng vảng ở đầu ngõ chơi nghịch và lại đánh chửi nhau chí chóe.
Khốn nạn! Cái ánh sáng thứ phát lại thay đổi cường độ nhấp nháy trong buồng giấu làm sao được. Một đứa phát hiện, cả bọn chổng mông dí mắt qua khe cổng để xác nhận: Ti vi đang được mở trong buồng, thế là chúng nó hò nhau.
-Một..., hai..., ba!
-Bà Ngọc ơi mở ti vi đi!
-Hai ba....!
-Bà Ngọc ơi mở ti vi cho cháu xem với!
Không ai đáp lời, anh sáng thứ phát nhấp nháy qua khe cửa buồng vụt tắt, lại hô.
-Hai ba!       
-Bà Ngọc ơi mở ti vi trong buồng đi
Một tối..., hai tối..., ba tối..  Sau buổi phát sóng thứ tư (kể từ hôm ti vi hỏng), sáng ngủ dậy, bà tôi la lối om xòm..., tất cả hồng xiêm được hái xuống đắp đống giữa sân kèm theo mảnh giấy đề vỏn vẹn hai chữ ....“CẢNH CÁO!”
Ông Tú tức tốc đáp xe buýt ra Quán Sứ điệu ông anh về. Ông Thụy lại nghĩ và đương nhiên “Mưu” lại ra.
-Tối nay, mày mang theo cái bao tải, đạp xe ra Cầu Diễn chờ tao.
Tắt nắng, cái giờ mọi người ở ngoài đồng về phải qua ngõ nhà ông, người ta thấy ông hì hục chằng buộc một cái hòm to tướng sau xe Hon đa, trên cái hòm ấy là giàn ăng ten. Dắt xe một đoạn ông lại dừng, khi thì chằng, khi thì buộc, lúc sờ lốp trước lúc ngó bánh sau rồi ông tháo cái hộp xích ra lau lau chùi chùi, tay đen nhẻm, ai đi qua cũng chào hỏi.
-Bác Thụy có cái hòm gì to thế?
-Bác Thụy đi đâu đấy?
-Chú thụy đèo cái gì đấy?
-Anh Thụy đi Hà lội à...? Tối thế...!
-Ông Thụy hỏng xe à?
Vân vân, các câu nửa chào nửa hỏi khác nhau nhưng chú tôi chỉ trả lời có mỗi một.
-Dạ/ừ! Cái ti vi nó hỏng… Cháu/Tao/Tôi ... phải mang ra đài truyền hình cho họ chữa...!
Đến khi không còn ai để trả lời nữa, chú tôi mới phóng ra cầu Diễn, đút cái Ăng ten vào bao tải cho ông Tú mang về.
Các khe cửa ra vào, cửa sổ của căn buồng đã được bịt kín nhưng cũng chỉ hai hôm là … lộ. Bọn “Nhất quỷ nhì ma” ấy chúng nó áp tai vào cánh cổng kháo nhau.
-Đang thời sự!
-Chiếu phim rồi!
-Hai ba!
- ….!
Thế rồi… Choang...! Một phát..., hai phát..., ba bốn phát gạch lên mái ngói.
Chú tôi lại về, bà tôi xua tay.
-Thôi! Ông mang cái của nợ ấy đi cho tôi nhờ! Bao nhiêu năm tôi có ti vi ti veo gì đâu vẫn sống được, ông cứ để đấy khéo tôi chết mất...!
Lần này chú tôi mang đi thật, không phải “cho vào hòm” nữa, cũng đi chậm, cũng dừng lại để sửa này sửa nọ nhưng mặt chú tôi hầm hầm không thèm trả lời ai...

Khoảng năm hai nghìn, không hiểu nhân chuyện gì tôi đem kể cho Gs Nguyễn Quang Bài, nghe xong, ông vỗ đùi đánh đét một cái rồi cứ ngẩng mặt lên trời mà cười..., cười mãi..., cười đến giàn giụa nước mắt, rồi thở gấp để nén cười ông kể.
Làng tao cũng có một trường hợp y như thế, chỉ khác là ông bố chứ không phải bà mẹ.
Thằng con được gọi về, sau khi hỏi và nghiên cứu kỹ nó bảo.
-Bố nhặt tất cả những hòn gạch một nửa để ở đầu hồi cho con!
Ông bố chẳng hiểu gì nhưng vẫn làm, tối hôm ấy, khi ông bố xem ti vi trong buồng thì thằng con chầu sẵn nơi đầu hồi.
Cái gì đến phải đến… Choang...! Cứ một hòn bay lên mái nhà nó là lập tức nó chẳng (ông Bài quê Ứng hòa gọi ném là chẳng) ba bốn phát lên mái ngói nhà ông trưởng tộc..., đương nhiên ông này chu tréo.
-Đéo mẹ cha đứa nào ném vỡ ngói nhà ông đấy....!
Thằng nọ chỉ chờ có thế.
-Khổ quá ông ạ! Cái ti vi nó hỏng thế mà chúng nó ném vỡ hết cả ngói nhà cháu..., bay cả sang nhà ông đấy.
Ông trưởng tộc vác gậy lao ra, bọn trẻ con chạy tóe.
-Đéo mẹ cha con thằng Dần..., con thằng Thịnh..., á... à... cả con thằng Côi nữa… Ông thì bảo cho thằng bố chúng mày.
Lũ trẻ con đứa ăn chửi, đứa ăn đòn, cái “Của nợ” không phải mang đi như nhà chú tôi.

Đấy! “Ném đá” thế mới “Nghề” chứ...! 

Phim Liên Xô

Người ta cứ bảo Tàu “Thâm”, người Nga “Ngố” nhưng những bộ phim Tàu được chiếu cho dân chúng Miền Bắc những năm 50-70 chẳng để lại cho tôi ấn tượng gì, trong khi ít nhất có ba bộ phim Liên Xô mà cho mãi đến tận bây giờ, càng nghĩ càng thấy họ ... “Thâm quá”!
Phim thứ nhất (tôi không nhớ đầu đề nên tạm gọi là “Đánh Rồng”), tôi được xem những năm đầu 70 của thế kỷ trước, nội dung nôm na thế này.
Xưa, ở một vùng cao, trên núi cây cối xanh tươi, nhiều hoa thơm quả ngọt, muông thú sinh sôi phát triển. Dưới thung lũng đất đai màu mỡ, khí hậu mát lành, canh tác vô cùng thuận tiện.
Cái gì cũng tươi tốt và phong phú, chỉ những con người là không, những thân hình gày guộc sống trong những túp lều rách nát, họ quanh năm làm việc quần quật ngoài nương dãy mà bữa ăn chỉ có củ và lá rừng. Những đôi mắt thẫn thờ chịu đựng, không khí u uất đè nặng khắp bản làng.
Chỉ có lũ trẻ con là vô tư, vừa lao động vừa nô đùa, chỉ có chúng là còn giữ được nụ cười trên môi nhưng khi chúng lớn dần lên, nụ cười cũng sẽ dần biến mất.
Nhà kia, hai vợ chồng đã già mới sinh được mụn con trai. Chẳng cứ ông bà, cả làng cùng mừng rỡ. Người ta nhường ăn xẻ mặc để ông bà nuôi con. Thằng bé khôi ngô tuấn tú, lớn nhanh như thổi, mười tuổi nó đã làm băng băng tất cả những việc nặng nhọc của người lớn. Hiếu thảo với bố mẹ già, lễ phép ngoan ngoãn với tất cả những người lớn, vui vẻ, thông minh, nghịch ngợm nhưng cũng luôn sẵn sàng giúp đỡ các bạn, ai ai cũng quý mến. 
16 tuổi, cậu thực sự là một tráng sỹ, thân hình vạm vỡ và nhanh nhẹn, đặc biệt với tài dùng đao, cậu trở thành linh hồn, biểu tượng cho sức mạnh dân làng.
Trong những cuộc đi săn, trừ thú dữ, cậu luôn làm được những điều phi thường như đánh hổ, vật trâu, những đêm trăng, cậu múa đao loang loáng, tiếng đao xé vào không khí kêu vun vút trước những con mắt trìu mến tự hào của người già, thèm muốn của bọn con trai, ngưỡng mộ của bọn con gái....
Một ngày kia, sang nhà người bạn hơn mình một tuổi cậu thấy mọi người không niềm nở chào đón cậu như thường lệ, người cha thẫn thờ bên vách liếp, đôi mắt đục mờ nhìn vô hồn về phía xa xôi. Bà mẹ, mắt ngấn lệ, vội lánh ra sau nhà như giấu giếm điều gì, mấy đứa em, không đùa nghịch như mọi khi, cụm lại với nhau trong xó nhà lấm lét.
Thấy nó ngạc nhiên, người bạn kéo tay lôi ra ngõ rỉ tai.
-Sắp đến lễ Tế Rồng, năm nay đến lượt làng mình và tao đã được chọn làm vật tế.
Cậu vẫn chẳng hiểu gì.         
-Thế thì làm sao? Tao thấy mẹ mày khóc...?
-Tức là Rồng sẽ ăn thịt tao mày hiểu chưa...?
-Rồng ở đâu...? Tại sao lại để cho nó ăn thịt...?
Đưa tay chỉ về ngọn núi cao vời vợi, mặt trời còn chưa tới đỉnh nhưng đã ló ra một phần nơi lưng chừng, nền trời phương đông ửng hồng rực rỡ, thằng bạn nói.
-Rồng ở trên kia kìa,. Tất cả đất đai và muôn vật ở đây đều là của Rồng, hàng năm chúng ta phải nộp tất cả những gì là ngon nhất, quý nhất cho Rồng kèm theo một thằng con trai như tao hoặc mày chẳng hạn, tức là khỏe mạnh và chưa có vợ để Rồng ăn thịt mày hiểu chưa...?
Cậu bé không thể tin vào những điều bạn nói.
-Sao không tổ chức đánh lại rồng? Thú dữ phá hoại mùa màng, ăn thịt người, chúng ta vẫn giết được đấy thôi...?
Người bạn lấy tay bịt miệng cậu.
-Mày nói nhỏ thôi Rồng nghe thấy thì họa cho cả làng bây giờ. Rồng khác...! Mày hiểu không...! Cũng ăn thịt người nhưng không được gọi là thú dữ, mà phải thờ... Thôi...! Tao không nói với mày nữa, đểể yên thì chỉ mình tao chết, không sao nhưng nếu để Rồng nổi giận thì cả bố mẹ và các em tao cũng chết, tao không muốn thế....! Tao chết là để mọi người được sống...
Đoạn, bỏ mặc cậu với những thắc mắc, nó lầm lũi ra về. Cậu nhìn theo thương sót, uất ức trào dâng, bất giác, cậu vùng chạy về nhà, rút cây đao trên vách, cắm đầu cắm cổ lao về phía trời đông...
Khi tới bờ sông cậu mới sực tỉnh..., Rồng ở đâu cậu còn chưa biết, tới ngọn núi cao kia phải mấy ngày đường ..., biết tìm Rồng ở đâu ...?
Nỗi uất ức gào thét, giằn xé trong cái cơ thể cường tráng, cậu vung cây đao đã bao lần giết chết hổ báo, dùng hết sức chém vào bất kỳ cái gì nhìn thấy như điên như dại..., cây cối đổ rào rào...., bỗng từ xa vọng lại tiếng gọi thất thanh.
-Con ơi...!
Cậu chống đao nhìn xuống, hai ông bà đang tất tưởi, hớt hải tìm con, họ vừa đi vừa chạy, vừa vấp ngã, tiếng họ lạc đi vì sợ hãi, lẫn đi trong tiếng gió hú rợn người bên đồi. Vứt đao chạy xuống, ôm lấy bố mẹ, vừa định cất lời hỏi thì người cha đã nói.
-Về thôi con...! Cha biết rồi..., về nhà, cha sẽ kể con nghe!
Bên bếp lửa bập bùng, người cha lặng lẽ vê thuốc, mồi lửa rít từng hơi dài, mắt đục mờ nhìn về phía núi..., Lâu lắm ông mới có thể bắt đầu, dường như ông vừa lấy được can đảm, vừa vượt qua được cơn sợ hãi...
-Ngày xửa ngày xưa, vùng này trù phú lắm, đất đai màu mỡ, mưa gió thuận hòa, của cải làm ra người ăn không hết, chim chóc muông thú rủ nhau về chia sẻ với dân làng. Chúng ăn những thứ người ta không dùng hết, chúng góp phần làm cho cuộc sống thêm vui vẻ và chúng cũng cung cấp nguồn thức ăn cho chúng ta...
Thế rồi mấy năm liền hạn hán kéo dài, ruộng đồng nứt nẻ, thức ăn không có, nước uống cũng cạn dần, muông thú bỏ đi, một số người không chịu nổi cũng bỏ đi tìm đất mới..., yếu đuối và lẻ loi, nghe nói chết ở dọc đường rất nhiều.
Những người ở lại vì không bỏ được mồ mả ông bà cha mẹ thì chết đói, chết khát cũng gần hết, một số ít còn lại đang thoi thóp...
Một hôm Rồng từ đâu tới, cũng đói nhưng cơn khát còn ghê gớm hơn. Rồng bay dọc theo lòng suối cạn khô. Đến đỉnh núi nó phát hiện một hòn đá khổng lồ ngăn dòng nước.
Lượng sức không đủ, Rồng bay về hô hào, động viên dân làng cùng giúp sức. Những người như những bộ xương kia nghe thấy nước bỗng trở nên tươi tỉnh, họ hăng hái đi và làm theo Rồng.
Đường xa hiểm trở, nhiều người gục ngã trước khi đến được đỉnh núi. Hòn đá quá to, khi hò nhau đẩy được theo nhịp hô của Rồng thì sức nước lại mạnh quá cuốn theo nhiều mạng nữa.
Những người còn lại vừa khóc vừa ôm nhau nhảy múa, họ nhớ những người bỏ đi, họ thương những người đã chết không được chứng kiến cuộc hồi sinh.
Cuộc vui chưa tàn thì cơn đói quay lại hành hạ, Rồng tóm ngay lấy một người, vặt chân, vặt tay cho vào mồm nhai rau ráu. Miệng, tay và thân Rồng nhoe nhoét máu... Khi đã vơi cơn, Rồng liếm mép nhìn lũ người đang chết run chết rẽ.
Chưa hết hân hoan đã kinh hoàng, lũ người quỳ xuống van xin rồng tha mạng. Trong giây lát, cũng thấy thương thương những kẻ vừa dùng chút sức tàn đẩy được hòn đá, Rồng ôn tồn nhưng cương quyết nói.
-Từ nay các ngươi đã có nước! Cuộc sống rồi sẽ ấm no, hạnh phúc. Các ngươi phải biết và luôn nhớ rằng đó là do ta đã mang lại cho các ngươi... Hãy thử tưởng tượng xem, nếu không có ta thì bao giờ các ngươi nới có nước...? Và các ngươi sẽ còn sống được đến bao giờ...? Thế nên, cả mạng sống của các ngươi cũng là của ta. Các ngươi có hiểu không?
Trong cơn kiếp đảm lại nghe Rồng phân tích có tình có lý đám người lại quỳ lạy như tế sao....
-Đất của ta, nay ta giao lại cho các ngươi sử dụng. Mạng sống của các ngươi ta cũng chưa động đến. Các ngươi phải ngoan ngoãn bảo nhau mà làm ăn....
Đám người lại vái như tế sao.
-Và cũng từ nay, hàng năm, các ngươi phải nộp tất cả những gì là ngon nhất, tốt nhất cho ta?
Đám người lại vái như tế sao.
-Kèm theo một thanh niên trinh tiết khỏe nhất, thông minh nhất?
Đám người ngần ngừ nhưng khi bắt gặp đôi mắt lạnh lùng của Rồng, gối họ khuỵu xuống và lại vái như tế sao, lần này bật ra vài tiếng nấc.
Từ đó, Rồng ngự trên đỉnh núi và các làng phải thay nhau cúng tế. Thoạt đầu Rồng chỉ cần ăn uống sau nó đòi vàng bạc châu báu. Thế là tất cả những thứ dân làng làm ra đều dành cho Rồng. thứ để rồng ăn, thứ đem đổi lấy vàng bạc châu báu cho Rồng thỏa thích....
Nghe đến đây, chàng lại hỏi.
-Sao ta không đánh lại Rồng?
-Có con ạ.... Rất nhiều tráng sỹ đã lên đường nhưng chưa thấy ai trở lại. Rồng vẫn ở trên núi, hễ năm nào chậm lễ hay lễ không đủ là nó lại về phá phách, đánh đập, bắt bớ và ăn thêm mấy mạng nữa.
Đứng bên bậu cửa, chàng thanh niên nghiến chặt răng đến tím mặt, tay bóp chặt vách liếp, cái ống tre vỡ cứa vào tay chàng, máu đỏ ứa ra mà chàng không hay biết. Bất giác chàng giậm chân, đấm mạnh vào không khí hét lên.
-Để con...!
Ông lão khốn khổ, gày yếu bật dậy ôm choàng lấy chàng trai tuấn tú như sợ con mình biến ngay đi mất, mếu máo.
-Không...! Con ơi...! Chúng ta chỉ có mình con.... Con chết rồi, chúng ta còn thiết chi sống nữa. Bố Mẹ xin con...!
Bà cụ đứng ngoài sân, chừng đã nghe hết cũng ào vào ôm lấy con, họ quấn chặt lấy nhau trong giấy lát.
Gỡ tay Cha Mẹ ra, chàng âu yếm lau dòng nước trên mắt mẹ, xoa xoa cái vai gầy của Bố nói.
-Con đi và sẽ trở về...! Bố-Mẹ cứ yên lòng...! Con sẽ trừ họa cho dân làng.

(còn nữa)

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Niềm tin biết gửi về đâu...!

Mấy hôm nay, Vietnamnet liên tục đưa những tin cay đắng
Tin một:
Có Phó ban quận ủy
Điều được kẻ giết người
Làm sao có thể cười
Có thể tin tổ chức
Tin hai:              
Khi doanh nhân tiêu biểu
Là trùm xã hội đen
Luật pháp, cửa không then
Làm sao ngăn tội ác
Tin ba: Thì trách sao
Có phó phòng ngoại vụ
Đi Mỹ chẳng muốn về
Thương lắm cánh đồng quê
Vẫn dằn lòng ở lại...!
Niềm tin biết gửi về đâu...!
= = = =
Tin một: Phó ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy Lê Trung Kiên, có liên quan đến vụ điều người giết chủ nợ ngay trên xe, giữa đường phố, giữa ban ngày, ngay cạnh trụ sở Bộ công an.
Tin hai: Hai Giám đốc doanh nghiệp, trong đó một là Doanh nhân tiêu biểu cả nước, được báo công với Vương triều nhà Lý dịp 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, một là Trưởng thôn lại là những “Trùm xã hội đen” ở Từ Sơn Bắc Ninh
Tin ba: Phó trưởng phòng Hợp tác quốc tế sở Ngoại vụ Cần Thơ, xin nghỉ việc, ở lại Mỹ làm cao học sau chuyến công tác.


Trồng cây lưu danh...!

Bí thư tỉnh ủy trồng đa.
Xây một cái biển, thế là lưu danh
Chủ tịch huyện, một cây đanh* (Gỗ đinh)
Cũng cắm cái biển lưu danh muôn đời.
Xã trưởng cũng muốn bằng người.
Cũng đào cái lỗ, cũng vùi cái cây.
Mấy thằng chụp ảnh lại đây.
Làm tao mấy phát, dán đầy lối đi.
Chẳng to thời cũng một thì.
Đứng đầu hàng xã tội gì lại không...!
Dè bỉu thì chết với ông
Ông học tập Bác mày không biết à...?
Đình, Chùa, Trường học xã ta
Cây xanh thì ít, lưu danh thì nhiều
Buộc trâu, đá bóng, thả diều
Không chăm, không bón, cây tiêu hết rồi.
Những cái biển, vẫn cứ ngồi.    
Nhìn xa cứ tưởng, bên đồi, tha ma.
Học người từ cái tâm ta.
Cần, kiệm, liêm, chính mời là tấm gương.
Làm chi dấu ấn bên đường.
Lòng dân ghi nhớ, mới trường, mới lâu.
Quan ơi hãy nhớ làm đầu.

Học Bác như thế, còn lâu mới thành...!!!

ĐẤT NƯỚC....!

Viết trả lời những than thở của bạn Sáu, (Bến Tre) về hiện trạng đất nước

Sáu nói đúng!
Người Việt ta vốn không thế!
Nhưng có lẽ tại Trời.
Đổi mưa thay nắng
Địa còn, Linh chạy đi đâu...?
Sinh lắm chuyện, buồn rầu, xấu hổ....
Xưa!
Từ thời ăn lông ở lỗ
Người Việt căn cơ, chăm chỉ bảo nhau
Người Tây Bắc biết hợp nhau diệt hổ
Người phơi lưng, lạc đỗ sông Hồng
Người hiền hòa, tôm cá Cửu Long

Bao người thành Thánh...!
Thánh giữ nước mở mang bờ cõi
Thánh dạy dân chăm chỉ hiền hòa
Biết yêu nước..., biết hiếu với mẹ cha.
Biết sáng tạo..., biết vươn lên bằng bạn

Thế mà!
Không biết từ đâu.
Thánh cũng cúi đầu.
Trời Phật, cũng khoanh tay cam chịu.
Con đánh bố.
Vợ chửi chồng.
Lớn, thì bỏ túi triệu đô rồi thể hiện xô bồ..., vương giả.
Tạo ra thói làm ít hưởng nhiều.
Khi tìm việc, chẳng quan tâm lương tháng bao nhiêu.
Chỉ hau háu xem bổng lộc nhiều hay ít...!
Táng tận lương tâm..., đạo lý hao mòn...
Đất nuôi cái tốt không còn.
Đến cả đất..., rừng..., núi..., sông..., cũng tranh nhau gửi vào ngân hàng Thụy Sỹ.
Thì trách chi mấy con làm đĩ.
Với mấy người trộm cắp của người ta.
Mấy người ấy..., ngộ có kẻ bảo là
-Gương trí-dũng không chịu thua đồng loại...?
Chỉ hiềm nỗi, không đủ tinh đủ quái
Để trơn mồm, bảnh mã, tàng hình, giấu hết quỷ ma
Ai cũng nghĩ đến danh dự Việt Nam Ta
Nhưng
Không khốn nạn, lại khó lòng tồn tại
Không tham lam, táng tận, phải thiệt thua
Khi trường học, miếu mạo đình chùa
Biến cả hết thành kinh doanh mua bán
Thánh, Thần, Phật đã bỏ đi lánh nạn
Cái phần người...

Ta đứng đấy thở than...!

TẶNG BẠN VĂN

Nhân bạn viết về những mái chùa cổ.

NHUỘM!

Bụi tre, nhuộm ánh nắng chiều
Nhuộm hồn ai, dáng xiêu xiêu mái chùa
Nhuộm đời, là nắng là mưa
Nhuộm hồn tôi, tiếng chuông chùa, vắng em!