Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

CẢM NHẬN TỪ MỘT BÀI HÁT ĐÃ CŨ...!


Cái gì tôi cũng không thể khá lên được là phải...!
Mỗi khi nghe nhạc tôi dồn hết tâm trí để cảm thụ cái ý nhạc, cái ca từ chứ ít khi để ý xem bài hát ấy ai viết và đặc biệt không bao giờ biết những ca sỹ nào đã hát...
Những ngày này, một bài hát từng được xếp vào loại “Nhạc vàng”, từng đương nhiên bị cấm và không biết bây giờ còn bị cấm nữa hay không? Ai cấm? Cấm ai...? Cứ ám ảnh trong tôi. Qúa khứ thì chẳng nói làm gì nhưng bây giờ mà vẫn cấm thì ... chắc chả phải...
Với tôi, bài hát, “Xin tròn tuổi loạn”, là tiếng nói, là nỗi lòng người trai Việt yêu nước.
Người trai Việt ở chỗ không nuôi những mộng ước quá cao, không mơ trở thành vua chúa mà trị vì thiên hạ, không ôm mộng với trời xanh..., và ngay cả những khao khát bình thường, một người con gái làm bạn đời cũng không cần phải kiêu xa lộng lẫy.
Tôi không tham, kho tàng vô tận
Tôi không mê, nét đẹp lộng lẫy giai nhân
Tôi không mơ, điền quý cung son vàng
Bạo chúa hay ông hoàng, quyền uy cao nhất thế gian...
Không phải chỉ bây giờ mà từ ngàn xưa, trai tráng nước Việt luôn đau đáu nỗi niềm đất nước, giống nòi.
Thương quê hương, qua bao thế kỷ không cười
Thương quê hương thăng trầm chuyển biến khôn nguôi...
Và cũng đầy lòng tự hào dân tộc:
Non sông ơi!           
Hồn Chí Linh, sông Đằng
Vạn Kiếp hay Hạ Hồi
Những dòng lịch sử... lâu rồi!
(Đoạn này tôi tự ý đổi hai câu)
Ước nguyện những người trai thật đơn giản nhưng tha thiết, mãnh liệt và đầy trách nhiệm.
Tôi chỉ xin               
Đầy lúa thơm quê mẹ hiền
Hàn gắn quê cha buồn phiền
Với niềm tin!
Những khát khao bình dị bùng cháy trong đoạn cao trào, tác giả không đòi đến những chân trời mới, những đỉnh cao muôn trượng mà gào thét dòi quyền được sống, được yêu thương.
Cho tôi xin, đóa hoa hồng nụ còn phong kín
Những ân tình ngọt miền chinh nguyên
Tiếng ban đầu, ngỏ lời, yêu em!
Ai đã từng cầm súng nơi rừng sâu núi đỏ trong ba cuộc chiến tranh; Chống Pháp, Mỹ, Trung Quốc (Bao gồm cả biên giới tây nam), dù mặc trang phục nhà Nguyễn, của Pháp, của Mỹ hay của Trung Quốc, mới hiểu khát vọng của những người trai Việt, mới biết những người dân buộc phải cầm súng bảo vệ tổ quốc ấy yêu hòa bình đến mức nào, căm ghét chiến tranh đến mức nào, họ chiến đấu, họ sẵn sàng hy sinh nhưng ước nguyện của họ, tương lai mà họ luôn hy vọng, chờ đợi lại là ngày “Trả súng đạn”. Họ hiểu rằng, ngày họ trở về cũng là khi chấm dứt chuỗi ngày khắc khoải mong đợi của mẹ già, của quê hương, của người em gái chờ mong:
Xin an vui, cho anh lứa tuổi đăng trình
Xin cho em, chuỗi ngày buồn thoáng qua mau
Và cuối cùng ... Phải...! Bài hát hay ở cái thật, thật vì ước nguyện hòa bình cho non sông đất nước, cho tiến bộ tương lai lại được tác giả đại diện cho những người trai “Thơ dại” mười chín đôi mươi nhắc đến sau cùng.
Cho xin thêm, ngày tháng xanh màu hoài
Để lớp trai thơ dại
Đốt đèn, đọc sách, đêm dài....!
Cũng phải thôi, vì họ đã “Không tham” những kho tàng vô tận, những nét đẹp lộng lẫy giai nhân, những “Bạo chúa hay ông hoàng”...!


HỦ HÓA...! (Trích)

Tháng 7, được đọc rất nhiều tri ân những AHLS... và một vài bài tri ân những người mẹ, người vợ, người yêu của lính ở hậu phương... Tôi trích đoạn này trong "Kỷ niệm đầu đời bộ đội" như một chia sẻ với số ít đó.
(....)                                                                                         
Cuối năm ngoái thư ký hợp tác là thằng Nhân thọt hủ hóa với con Lành vợ bộ đội đi B. Tội nặng quá, người ta đem nó ra đấu tố như tố địa chủ. Chả biết bị dọa dẫm những gì mà nó khai hết… Các ông bà trong ban quản trị, ai lấy cái gì, gian lận bao nhiêu nó khai tuốt, nhưng chủ yếu vẫn là tội của nó. Thằng này còn chưa hết lớp bảy mà giỏi thật! Đã lừa gạt dân mà lại dám qua mặt mấy ông chánh phó chủ nhiệm tham như mõ.
Có lần, chả biết bù khú ở đâu say khướt nó tuyên bố.
- Mấy thằng lãnh đạo, có thằng nào hết lớp bốn đâu, vừa tham vừa ngu như chó. Tao chỉ lùi cho mấy dấu phẩy là bảo gì cũng phải nghe.
Chả hiểu nó nói với những ai nhưng chỉ sáng hôm sau là cả làng biết. Thằng Nhân ngủ đến hơn mười một giờ trưa, uể oải ra bể múc nước xúc miệng. Thằng này không biết đánh răng nhưng xúc miệng rất kỹ. Nó giải thích một cách rất “khoa học” rằng, cái mồm lúc ngủ dạy nó thối, tức là có rất nhiều chất bổ cho cây, cũng như phân bắc ấy! ( Khi chưa có phân hóa học thì cứt người là thứ tốt nhất để bón ruộng và được gọi là phân Bắc, cứt lợn cứt bò gọi là phân Chuồng, cây lá đem bón ruộng gọi là phân Xanh..., lạ thật...! Của ta hẳn hoi nhưng hễ cái gì to, tốt, ngon, đẹp..., lại phải gán chữ Tây hay Bắc vào).
Chả thế mà nhà hắn không ai được đánh răng, ai cũng chỉ được xúc miệng rồi phải nhổ vào mấy khóm tía tô kinh giới cạnh bể.
Xúc miệng và hoàn thành việc bón cây xong, thằng Nhân ngồi phịch xuống hè, với cái điếu rít một hơi thật sâu… Đầu nó nhẹ bỗng, có cái gì tê tê giần giật lan khắp người, ngả đầu vào liếp dại lim dim bỗng giật mình mở mắt, thấy con vợ đứng lù lù trước mặt. Đã co cẳng toan đạp cho một phát, cảnh cáo mụ cái tội làm nó giật mình nhưng thấy mặt mụ nghiêm quá..., khác thường quá ... nên cái đầu gối vừa co lên lại từ từ duỗi ra. Mụ vợ hất tay và hắn lồm cồm bò dậy theo vào buồng.
-Nốc cho lắm vào...! Rồi ngủ cho nứt mắt ra...! Cả xóm cả làng đang hả hê vì ông chửi cán bộ thay cho người ta kia kìa….! Sao bảo nhà ông khôn lắm kia mà...? Sao nốc vào lại ngu thế...!
Thằng nhân tái mặt, nó chỉ lơ mơ chứ không thể nhớ chính xác hôm qua đã nói những gì. Gì thì cũng phải bình tĩnh..., trước hết phải trấn an con vợ đã.
-Vớ..., vẩn…! Đàn bà chúng mày, biết gì mà chõ mõm vào…! Mà ông sợ đéo gì thằng nào! Chánh phó chủ nhiệm thì cả làng này nó chửi chứ riêng gì ông… Để xem!
Đoạn hắn đùng đùng bỏ ra cổng, chỉ hùng hổ từ buồng ra đến cổng thôi. Đưa tay ra sau kéo cánh cổng cót nẹp khung tre, khi đã chắc chắn mụ vợ không còn có thể nhìn thấy được nữa, hắn dừng lại vờ phủi bụi trên tay áo nhưng thực ra là để chỉnh lại “quân dung”, đưa tay vuốt ngược mái tóc sang bên cũng là lúc nó đảo mắt quan sát, chẳng thấy gì bất thường nó mới cố lấy vẻ ung dung, lúc lắc đi.
Lượn quanh xóm một lượt... không ổn thật rồi! Người thường tránh mặt hắn đã đành, sao mấy kẻ nịnh bợ, mấy ông bạn rượu mọi ngày vồn vã lắm kia mà, sao hôm này ai cũng như bận, như mải việc gì không để ý đến hắn…, chả lẽ ngẫu nhiên ai cũng vô tình không thấy hắn...!
Xuống xóm dưới, hắn đến thẳng nhà Lành, dừng trước cổng, cất cao giọng gọi vào nhưng lại cốt cho hàng xóm nghe
- Cụ Sinh có nhà không...? Cháu xin nắm ngải cứu...!
Tiên sư cha thằng khốn nạn! Bà Sinh là mẹ chồng con Lành, con trai bà đang ở chiến trường không biết sống chết thế nào. Bản năng của người mẹ cùng với kinh nghiệm một thời son trẻ chỉ cho bà biết rằng, những thằng đàn ông đến nhà bà với mục đích gì. Bà mà rình được thì bà vằm cái mặt mày ra ... Bố mày phải gió cấm khẩu hay sao mà mày xin ngải cứu....? Trên xóm thiếu gì, sao mày phải xuống tận đây mà ngải với chả cứu...
Đang ngồi khứu cái áo cho con dâu, bà Sinh nghĩ vậy nhưng cứ ngơ đi chẳng thèm trả lời. Thằng Nhân ve vẩy cái chân thọt đến tận nơi, trơ trẽn hỏi.
- Lành có nhà không cụ...?
Vẫn chằng thèm quay lại, cụ nói như quát.
- Ra vườn mà hái...! Lành với rách gì...! Nó đi vắng rồi...!
Không thể đối xử với thằng này tệ hơn bởi cụ thương con Lành. Hơn bốn năm rồi, kể từ lần cuối cùng nhận được tin thằng Lộc..., biết nó còn được về không…, mà con Lành thì càng ngày bà càng thương nó, thương hơn cả đứa con bà rứt ruột đẻ ra. Thương nó trước hết vì nó cũng thương bà, chẳng cho bà đụng vào việc gì nặng nhọc.
Có lần, thấy nó quần quật hết việc nhà, việc hợp tác lại hội lại họp, lúc thì dân quân, lúc lại phụ nữ ba đảm đang. Quyết không nghe lời nó nữa, bà mang đòn càn ra đồng gánh rạ. Bà vẫn làm được cơ mà, kỳ lạ thật, khi người ta được lao động vì người thân của mình. Trước kia cứ nghĩ đến con Quỳnh thằng Lộc đang đói bà không biết mệt là gì, bây giờ nghĩ đến con Lành, thương nó bà cũng chẳng thấy nặng nhọc là gì.
Đi họp về, trời đã nhá nhem, không thấy khói bếp như mọi khi, đàn gà sau một ngày đào bới, diều chưa đầy còn ngơ ngác ngoài sân đợi thóc. Thấy lạ, tưởng bà làm sao, con Lành chạy ào vào nhà lớn tiếng.
- Ối U ơi...! U làm sao đấy...?
Quờ tay vào giường, chả thấy gì, nó lẩy bẩy đánh được que diêm giơ lên soi mới hay bà không có nhà. Hoảng quá, lao ra cửa, vừa định hét lên gọi mẹ thì nó thấy lù lù một đống rạ đen xì đang khó khăn lách qua cổng. Chẳng thấy người nhưng đích thị là u nó rồi, người U nó nhỏ, gánh rạ lại to thế kia thì thấy làm sao được. Thương xót, hờn giận, nó lao về cái đống rạ kia mà mếu máo.
-Giời ơi là giời....! U ơi là U...!
Rồi nó quát.
- U có để xuống không...!
Bà Sinh chấp hành như một đứa trẻ ăn vụng bị bắt quả tang, thương quá bà đâm sợ nó, người bà run rẩy.
- Mẹ....
Mới cất được một tiếng con Lành đã ôm lấy bà ngã vật vào bó rạ, cái thừng bục ra như có người trải cái nệm cho mẹ chồng và nàng dâu ghì chặt lấy nhau mà nức nở.
Những ngày mưa gió không ra đồng được nó ngồi nhổ tóc sâu cho bà. Đêm đông giá rét nó ôm lưng bà, bắt bà kể về tuổi thơ của chồng nó, rồi nó cười, tiếng cười cứ ròn tan, cứ như thể chính bà là chồng nó vậy. Rồi nó lại bắt bà kể về cuộc đời làm dâu của bà, nó im lặng, một tay nắm tay bà, tay kia chốc chốc lại vuốt mấy sợi tóc mai dính nơi khóe miệng cho bà dễ kể. Bỗng chốc bà thấy mình như đứa trẻ, khi bà đã thiếp đi nó mới nhoài người thổi tắt đèn rồi kéo chăn cho bà ngủ. Có khi, nửa đêm thức giấc, bà thấy nó trằn trọc trở mình..., kinh nghiệm của những năm chờ chồng và mười tám năm góa bụa bảo cho bà biết rằng…, lửa đang cháy trong lòng nó.
Bà thương nó đến mức giận cả thằng con trai. Lộc ơi...! sao mày cứ đi biền biệt thể hả con...? Đợi mày xong lý tưởng, xong phấn đấu thì nó chết già à....! Mà ngộ nhỡ mày không về thì mẹ biết làm sao đây hả Lộc…!
Vì thế, ngay từ ngày đầu thấy thằng Nhân ve vãn, bà đã không thể giận con Lành. Nhưng bà ức lắm..., phải gì là người đàng hoàng cho bõ. Đằng này đã lùn còn thọt, cái mặt dài ngoẵng, nhìn vào mắt đã thấy đầy gian giảo, chả thế mà từ người dân cho đến chánh phó chủ nhiệm ai cũng kiềng mặt nó.
- Kìa U...!
Con Lành đâu từ ngoài vườn vào như cứu thằng Nhân khỏi cơn bẽ mặt.
- Bác Nhân ngồi chơi với U em để em xuống bếp lấy nước.
Thằng Nhân chẳng nói gì, cũng chẳng cần để ý bà cụ, sợ quá hóa liều, nó theo chân Lành xuống bếp.
-Lành có nghe gì không?
-Bác mới ngủ dậy à...? Người ta đồn, bác rủa mấy người lãnh đạo ngu si vô học, ăn công điểm của bác rồi phải sợ bác.
Đận ấy thằng Nhân tốn vô khối cho ban quản trị.
Nhưng nó có mất gì đâu, thằng mất dạy cứ xin người này duyệt cho kẻ khác, lúc dăm cân cá ngon, khi đôi lốp xe đạp mà lẽ ra dành cho dân quân đi tuần. Và khi các ông các bà nhận đủ lễ thì cơn giận cũng qua đi.
Thế rồi một buổi tối, con Lành đang nấu cám lợn thì thằng Nhân khập khiễng bước vào, ánh lửa bập bùng trong bếp, mùi cám thơm thơm khiến nó biết Lành đang ở đâu. Ánh đèn dầu leo lét trong buồng cũng mách bảo nó chỗ bà cụ đang nằm.
Giật mình thấy thằng thọt xuất hiện ngay cửa, con Lành lớn tiếng ý tứ.
- Bác lên nhà xơi nước, cháu xong ngay đây...!
Dưới ánh lửa rơm cặp má con Lành ửng hồng lên, đi cấy về chưa kịp tắm, cái quần lụa còn xắn lên quá gối để lộ hai bắp chân trắng ngần, khói bếp làm cho đôi mắt Lành vốn đã long lanh giờ như huyền ảo, cặp ngực căng tròn nhấp nhô như nhảy múa trong ánh lửa bập bùng. Thằng Nhân mê mẩn, thằng Nhân hoa mắt, bất giác nó xà xuống ôm chặt lấy con Lành, miệng hổn hển.
- Lành ...
Hai đứa ngã vật vào cái ổ rơm, Lành cố sức đẩy con quỷ dâm dục ra.
- Không...!
Lấy hết sức, nó đạp cho thằng Nhân một cái rồi hét lên.
- U ơi...!
Dẫu đã tối lâu và thằng Nhân không chào nhưng bà Sinh vẫn biết, bản lĩnh người mẹ khiến bà không thể bỏ qua bất cứ tiếng động nhỏ nào dưới bếp. Nghe tiếng con gọi thất thanh bà vớ ngay cái gậy đã để sẵn đầu giường.
- Tổ sư cha thằng mất dạy...! Mày thì chết với bà...!
Cơn thịnh nộ của bà vừa lên đỉnh điểm lập tức xẹp dí..., bà bủn rủn thấy thằng Nhân nằm trên ổ rơm tung tóe hai tay tay ôm chặt lấy bộ hạ, cong người hết cỡ, hai cái đầu gôi như cặp lấy cái đầu dài ngoẵng, tái mét.
Cái Lành thì chỉ định tự vệ, bà Sinh thì cũng chỉ định cảnh cáo nhưng có ngờ đâu cái đạp tự vệ của cô con gái đương thì lại trúng vào cái bộ phận mất dạy nhất của thằng mất dạy khiến giờ nó nằm im như chết.
Cả ba người còn chưa biết xử trí thế nào thì hàng xóm đã lục đục kéo sang. Hóa ra không chỉ mình bà Sinh theo dõi. Thoáng một cái dân quân với gậy gộc, súng ống đã đầy nhà. Lập biên bản rồi thằng thọt bị lôi cổ lên xã.
Vô phúc cho nhà nó, hình như thằng Lộc chồng con Lành đã hy sinh, giấy báo tử đã về nhưng xã còn giấu đi để làm công tác tư tưởng.
Chính sách hậu phương khiến chính quyền không thể làm ngơ, phen này thì thằng thọt đi đời...!
Quả vậy, hôm sau có cả công an huyện đi xít-đờ-ca về. Thằng Nhân bị thẩm vấn công khai ở sân đình trước đầy đủ chính quền, đoàn thể, bà con. Từ cái tội hủ hóa hiếp dâm, người ta truy đến đâu nó khai đến đấy, tội của nó, của chánh phó chủ nhiệm, của các thành viên ban quản trị…, nó khai hết bởi vì nó sợ chết. Hình ảnh địa chủ Tạo ngày nào, cũng sau khi đấu tố thế này bị lôi xềnh xệch ra ngoài ruộng, trói vào cái cột tre, vừa há mồm kêu.
- Ối giời ơi...! Ối Cha, ối Me...
Tiếng Mẹ chưa tròn, tiếng ơi! Chưa cất thì...Đoàng! Ông Tạo tung lên rồi cả người cả cột đổ vật, máu và óc bắn vọt. Bọn trẻ ù té chạy, thằng Nhân bị thọt nên không thể theo được… Đến tận bây giờ, nhắm mắt lại nó vẫn thấy ông Tạo bị trói tay vào cái cột tre, nửa người trên bất động trên thửa ruộng vai cày đẫm máu, chỉ hai cái chân là còn giẫy giẫy như con ếch bị người ta đập mạnh một phát vào đầu.
Khai hết rồi, thằng Nhân quỳ xuống vái như tế sao, đái ỉa cả ra quần, đoạn nó vật ra chết giấc.

Ai giết nó làm gì, bấy giờ súng đạn để đánh Mỹ có thừa đâu mà bắn nó. Nhưng mà mất ghế thư ký, cái chức tưởng nhỏ nhưng đã nuôi sống cả nhà nó một cách ngon lành, đủ cho nó vênh vác, hơn người ngót chục năm nay.

Nhại TỐ HỮU

Đổi mới chửa chục ngàn ngày
Mà xem trời đất đổi thay đã nhiều
Dân mất ruộng dập rìu chợ cóc
Để kiếm tiền đong thóc làm thuê
Bốn mùa thịt chó trên đê   
Sớm trưa lơ xúc đi về mặc ai
Đời hết kẻ sống lười ăn bám
Đời của ai dũng cảm tham ô
Những người lao động quang vinh
Chúng ta làm chủ lấy mình từ lâu

Đã nghe đương dốt thành tài
Đã nghe kỷ luật lại vài lần lên
Đã nghe học dốt làm to
Mang của nhà nước về kho nhà mình
Đã nghe đồng chí thân tình
Triệu đô biếu để tội mình được qua
Đã nghe cắt đất làm quà
Chỗ bạn đang sống, hôm qua của mình
Đã nghe cạn kiệt chữ tình

Bố mẹ còn vứt nữa mình với ta

SỰ HỌC...!

Tôi cho rằng vốn người ta như nhau nhưng rồi khác nhau là bởi sự học. Học không cứ phải cắp sách tới thầy, mà học ở những gì nghe thấy nhìn thấy.
Một lần, tôi đã vỗ vai cô Hộ lý (người chỉ có nhiệm vụ lau chùi) ở phòng mổ Bệnh viện Xanh-Pôn mà nói.
-Đính ạ! Tao coi mày là một người có văn hoá. Văn hoá của mày còn cao hơn rất nhiều mấy thằng Giáo sư, tiến sỹ, trưởng phó khoa, giám đốc, phó giám đốc kia..., kể cả tao nữa. Tao nói thật lòng đấy...!
Tôi nói thế vì cô này luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm thật sự chứ không làm cho xong việc. Những câu đùa của cô ta cũng có ý có tứ chứ không nhạt nhẽo bậy bạ như ai.
Một lần tôi mang một bệnh nhân rất nặng lên mổ, ngại làm vì nguy cơ cao hay còn vì gì nữa, chúng nó hoạnh hoẹ tôi đủ thứ, cứ như thể mình đang quỵ luỵ để cứu bố cứu mẹ đẻ mình vậy. Sau một hồi ngọt nhạt, tôi điên tiết chửi đổng.
-Mẹ cha chúng nó chứ...! Ông thì đéo mổ nữa bây giờ...! Nó mà chết, người nhà nó kiện cho chết cha chúng nó đi...!
Đính tươi cười xoa dịu.               
-Thôi...! Để em mặc áo cho ông...! Ông vào ông mổ đi...! Kệ chúng nó..! Chấp làm gì...!
Nghe cái câu: "Để em mặc áo cho ông..." thấy... sướng sướng làm sao, cứ như mình là ông cha gì đó trong Giên e rơ ấy. Tôi hết bực vì đã có người đồng cảm. Nạn nhân ấy sống ... "Hoành tráng".
Khi ra viện, nhà nó đến cảm ơn tôi, tôi chỉ chúng xuống phòng mổ tìm cô Đính mà cảm ơn. Hôm sau, Đính đưa tôi cái phong bì nói.
-Em chỉ xin ông một chút gọi là, còn đây là của ông...! Gớm...! Nóng thế...! Hỏng việc đấy...!
Như thế, cô ta chả hơn tôi nhiều lần à...?
Bây giờ mới vào chuyện tuyên truyền.
Những năm 60-70, ở Miền Bắc, hệ thống loa truyền thanh được trang bị đến từng thôn xóm, thậm chí từng nhà cho bà con nghe miễn phí (dân ta sướng thế còn gì). Những cái loa xuốt ngày chõ mồm về phía có đân cư mà ra rả. Ai cũng được nghe, ai không muốn nghe thì chỉ có cách là bịt tai thật chặt vào thôi.
Năm ngoái, hôm qua, hôm nay, ngày mai, sang năm các tin cứ na ná như nhau đến mức bọn tôi thuộc lòng đến tận bây giờ.
-Các cụ phụ lão Thanh Hoá vừa động viên con cháu hăng hái lên đường tòng quân vừa trực tiếp hăng say luyện tập sẵn sàng đánh trả.... Đội thiếu niên tiền phong huyện Ứng Hoà làm kế hoạnh nhỏ... Hội phụ nữ Tiền Hải…
Vân vân... Đã có dịp kể trong "Báo ơ...! Báo buổi sáng ơ...!” đấy.
Đầu ngõ nhà tôi có một cái ao HTX (tịch thu của địa chủ). Nhà bà Tẽo ngay đầu ngõ cũng có một cái ao con nữa. Một hôm, đã nhá nhem tối, tôi ở ngoài đồng về đang rửa chân ở cái cầu bằng gạch bên ao HTX. Tiếng loa inh tai.
-Mời đồng bào và chiến sỹ cả nước nghe tin chiến thắng! Hôm nay, giặc Mỹ điên cuồng cho nhiều tốp máy bay bắn phá khu vực cầu Hàm Rồng hòng cắt tuyến chi viện cho của chúng ta. Nêu cao ý chí cách mạng, tinh thần cảnh giác cao luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, quân và dân Thanh Hoá đã anh dũng đánh trả, bắn rơi sáu máy bay F4 trong đó có ba chiếc rơi tại chỗ, bắt sống hai tên giặc lái... Miền Bắc gọi, Miền Nam trả lời! Quân giải phóng và bà con Tây Ninh đã anh dũng chống trả, bẻ gẫy trận càn quét dã man của địch, tiêu diệt 68 tên trong đó có 12 tên Mỹ, loại ra khỏi vòng chiến đấu hơn 120 tên, thu toàn bộ quân trang quân dụng…
Giọng cô phát thanh viên vừa ngớt thì nhạc (Kèn đồng) bài “Giải phóng Miền nam” nổi lên, hùng tráng: Tèn ten…, ten ten tèn ten tén tèn…
Vì đã quá quen nên tôi không quan tâm thích thú gì cái tin và cái nhạc đầy khí thế chiến thắng ấy. Nhưng ở cầu ao bên kia, bà Tẽo đi tát nước về đang cúi rửa đôi chân đầy bùn bỗng đứng dậy, bà nói thẽ thọt nhưng cũng đủ to vì nghĩ không ai nghe thấy (Nông thôn ngày ấy nhá nhem tối là ngoài đường không còn ai).
-Đéo mẹ cha tiên nhân nhà chúng nó chứ...! Hôm nào cũng chiến thắng...! Hôm nào cũng diệt bao nhiêu tên địch… Con bà thì... đéo thấy đâu...!
Tôi sững sờ vì câu nói của bà mẹ không biết chữ. Bà Tẽo có 7 đứa con. Ba trong năm đứa con trai đang là bộ đội. Hai trong ba đứa ấy ở trong B, đặc biệt là thằng cả, đã hơn bốn năm không có tin tức gì, người ta đồn rằng nó đã hy sinh, Ủy ban còn ỉm đi chưa thông báo…
Câu chửi đổng của bà đã cụ thể hóa những cảm nhận lơ mơ trong tôi.
-Ừ nhỉ...! Đánh nhau thì phải có thắng có thua, sao ngần ấy năm ta chẳng thua trận nào...? Mà sao bọn Mỹ-Ngụy nó lắm người đến thế không biết, ngày nào ta cũng tiêu diệt, cũng bắt sống, cũng loại ra khỏi vòng chiến đấu bao nhiêu là tên, thế mà chúng vẫn đủ sức sát hại dân ta được nhỉ....? Sao các ông lãnh đạo nhà mình không cho đánh bỏ mẹ nó đi, giải phóng Miền Nam cho nhanh để các bà mẹ Miền Bắc đỡ sốt ruột?

Câu chửi đổng vụng trộm của bà Tẽo cứ theo tôi mãi..., rồi một hôm, tôi bỗng ngộ ra rằng bà ta hơn nhiều người, hơn những người cùng có con đi chiến trường, hơn những thằng cán bộ nói như... vẹt, và hơn cả những thằng được ăn học.

Đấy...! Chịu nhìn, chịu nghe, chịu suy nghĩ để rồi ngộ ra điều gì đó mình vẫn hiểu sai, hiểu chưa thật đúng... thế là học, chứ đâu cứ phải sang Tây sang Tàu...!

TẠ ĐÌNH ĐỀ...!

Tôi may mắn được hầu chuyện bác Đề vài lần ở khu tập thể Nhà Dầu Khâm Thiên. Gọi là Nhà Dầu không phải vì ở đấy toàn nhà giàu có, cũng không phải ở đấy bán dầu hỏa thắp đèn, lầu luyn lau xe hay dầu lạc, dầu dừa, dầu Neptuyn để xào để rán mà đó là khu nhà cấp bốn khung làm bằng những thanh sắt đường ray xe lửa. Đương nhiên, đó là khu tập thể dành cho cán bộ công nhân ngành đường sắt Hà Nội, lợp toàn bằng giấy dầu nên có cái tên ấy.
Nhà bác ở tầng hai, điều đó cho thấy ngành đường sắt vẫn coi trọng bác lắm.
Ngày bé cũng được nghe nhiều truyền thuyết về Tạ Đình Đề, bọn trẻ bây giờ chưa chắc đã biết nên xin phép kể ra đây vài chuyện cho vui và suy ngẫm (Bạn đọc nhớ rằng, đây là những giai thoại truyền miệng trong dân gian thời những năm 60, tôi chỉ nghe được chứ không phải tự phịa ra):
1-Cuộc thi (sát hạch) lớp tình báo CIA, bọn Mỹ cho tất cả học viên vào một hội trường rồi đóng cửa tắt đèn. Họ bắn nhau loạn xạ, chờ cho im tiếng súng, ban giám khảo mới bật đèn lên, tuyên bố kết thúc. Người ta thấy Tạ Đình Đề lật một cái xác đứng lên và Giang Thanh từ trong khe cửa bước ra, đó là hai thí sinh tốt nghiệp và ngay lập tức được cử đi ám xát bác Hồ bác Mao. Những người khác đương nhiên phải xuống âm ti để Diêm Vương trị cái tội học dốt.
2-Để kiểm tra tài bắn súng của chú Đề, Bác tung đồng xu lên, nhanh như cắt, Đề rút súng... Đoàng! Rồi dựng ngón tay út..., đồng xu trúng đạn biến thành cái nhẫn..., chui tọt vào ngón tay Đề.
3-Có lần Bác đang vừa đọc tài liệu vừa hút thuốc, Đề đứng bảo vệ ở bên, buồn tình rút súng... Đoàng!
–Xin Bác mấy hơi!
Bác giật mình rời mắt khỏi tài liệu, đã thấy nửa điếu thuốc trên môi Đề..., hai bác cháu hút ngon lành.
4-Có lần bị phục kích, Đề cõng Bác vừa chạy vừa dùng cả hai tay bắn ra sau. Anh em đến cứu thấy bọn địch đã chết hết vì đạn của Đề.
5-Một trong những lần định ám sát Bác, Đề nằm rình trên ống máng. Nửa đêm, sương muối về lạnh buốt, bác mở cửa nói to. “ Chú Đề xuống đây bác đốt lửa cho sưởi, nằm trên ấy rét chết...!” Đề tụt xuống phủi tay cười hì! Hì!. Hai bác cháu chuyện trò thâu đêm bên bếp lửa....
6-Lần khác, bác bảo chú công vụ.
-Hôm nay chú mấu ba xuất..., xem còn cái gì ngon thì bỏ ra rồi mời chú Đề xuống ăn nhân thể.
Người công vụ chả hiểu gì, Đề nhảy từ nóc nhà xuống cười hề hề...!
Xét như thế thì Bác của chúng ta quả là Thánh sống còn gì....!
Nghe tôi kể lại những chuyện này Bác Đề xua tay.
-Mình biết cả rồi, nhưng làm gì có...! Mình học sỹ quan lục quân, được phân công bảo vệ Bác và Chính phủ. Tính mình thẳng nên nhiều người ghét. Chỉ duy nhất một lần đến bản nọ để họp, mình phải trông ngựa ở ngoài rừng, quá hẹn đã lâu mà không thấy họ ra mình điên tiết lùa bố nó ngựa xuống đầm, buộc túm sáu cái dây với nhau (cho nó khỏi chạy) rồi bỏ về trước. Sau đận ấy bị kiểm điểm ghê lắm, chắc những chuyện kia được thêu dệt từ đó.
Hôm dự đám giỗ bác Kim Ngọc tôi cứ suy nghĩ: Nông nghiệp có Kim Ngọc, công nghiệp có Tạ Đình Đề. Nghe nói thời ông phụ trách xưởng cao su đường sắt đã áp dụng nhiều đổi mới động viên được sức người sức của. Ông mạnh dạn tuyển dụng những người vừa ra tù để tạo cho họ cơ hội hoàn lương. Cảm cái tâm ông, người người ra sức làm việc, phát huy sáng kiến.... Thế mới có một Cao su đường sắt làm ăn có lãi, sản phẩm vợt bóng bàn đã thành thương hiệu Việt Nam.
Tiếc thay! Những chính sách của ông (mà bây giờ nhiều nhà quản lý được đào tạo tử tế dẫu mơ cũng không có được) lại sinh ra quá sớm và nó đã là cái cớ để những người ghen ghét ông ra tay.
Khi người ta xử ông lần thứ nhất, chúng tôi còn ở chiến trường (Đã giải phóng Miền Nam) nhưng nghe nói người Hà Nội đến dự đông vô kể. Việc bắc loa ra ngoài cho bà con theo dõi cũng có lẽ vì thế.
Không biết ông Lưu Quang Vũ khi viết “Tôi và chúng ta” nghĩ gì nhưng tôi thì tôi tin là ông đã dựa trên tư liệu sống là Tạ Đình Đề và xưởng cao su của ông.
Khi tôi (với con mắt nghề nghiệp) cầm và hỏi về những cong queo trên chân tay, ông rơm rớm nước mắt nói.
-Mình bị đánh đấy!
Ông không nói và tôi cũng không dám hỏi xem ai đã đánh ông. Trong tôi trào dâng uất hận, một con người xuất quỷ nhập thần, một vệ sỹ trung thành và tài ba của lãnh tụ, một thần tượng của bao tay hảo hán mà bị đánh đến què chân què tay thế này ư?

Hình như dịp đổi tiền sau đó, ông còn bị bắt một lần nữa trước khi ông mất vài năm, không hiểu có cái bóng ma nào đó đã lẽo đẽo theo ông và cũng không hiểu bây giờ, dưới âm ti..., ông có gặp chúng nó nữa không, đã được yên thân chưa….! 

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Thư gửi một CCB Việt Nam Cộng Hòa


Tôi nhận được những dòng sau từ anh Hai Rạch Giá:
CSCN - XHCN là cái gì? Chính những người đang ở trog đảng CSVN còn chưa chắc đã biết. Tôi đã bỏ hai năm ra để đọc Mác - Lénin toàn tập mà còn chẳng hiều gì ráo. Có chăng là chỉ nổi gai ốc khi gặp phải mấy cụm từ "chuyên chính vô sàn" "bạo lực cách mạng".
Thật tình mà nói, nếu như những người tự vỗ ngực xưng tên và trưng cái thẻ đảng để không bao giờ từ bỏ cái thứ Chủ Nghĩa Mà Họ Không Biết Gì ấy là họ mất hết cái đặc quyền ngồi trên đầu cỗ thiên hạ. Anh thử nhìn xem số phận của những người trả thẻ Đảng ra làm sao thì thì anh biết ngay lý do tại sao họ vẫn bấu vào cái Chủ Nghĩa Mà Họ Không Biết Gì.
8 điều mà anh mong Đảng CSVN thực hiện là hoàn toàn chính đáng và chính nghĩa. Anh mong thế, mọi gười và tôi cũng mong thế. Nhưng ... buồn nẫu cả ruột anh ạ. Họ có làm đấy, làm theo kiểu những tay cờ bạc bịp.
Anh có nhìn thấy một đảng viên nào có nhà ở trong hẻm không, toàn là những nơi đắc địa cả.

THƯ TRẢ LỜI
Thân mến gửi Anh Hai Rạch Giá!
Từ ngày quen biết Saumietvuon, em đã để ý đến anh (Em tin rằng anh nhiều tuổi hơn em), qua những cảm nhận về văn thơ bên trang Sáu, và em tin rằng anh là một người Việt luôn trăn trở cùng vận mạng đất nước, vận mạng dân tộc.
Xin giử anh lời chào Trân trọng và xin chia sẻ những trăn trở, băn khoăn cùng anh!
Cũng qua đó, theo em hiểu, anh cũng là CCB VNCH.
Sau 30-4-75 những người Việt là CCB có những cái giống nhau và những cái khác nhau:
-Chúng ta giống nhau trước hết vì chúng ta đều là con dân Việt, mang trong mình dòng máu Việt, mang trong tâm thức những thăng trầm lịch sử.
-Giống nhau là chúng ta, những người dân đã từng cầm súng Bảo vệ tổ quốc.
-Giống nhau là chúng ta cùng may mắn sống sót, cùng được về đoàn tụ với gia đình, chăm lo mồ mả ông bà tiên tổ, chăm sóc bố mẹ già, hưởng hạnh phúc cùng người vợ, cùng nhau sinh con đẻ cái, cùng nhau nuôi dạy chúng nên người.
-Giống nhau vì chúng ta đang cùng hưởng hòa bình, cùng chịu những cái, những điều mà hậu chiến mang lại.
-Giống nhau vì lúc này cùng là những công dân, trước nguy cơ mất nước nhưng hành động và lời nói chẳng mảy may có giá trị với những người cầm quyền..., chúng ta đang bất lực, tương lai của ta nằm trong tương lai đất nước, tương lai dân tộc lại đang phụ thuộc vào những nhóm người mà những nhóm ấy không thật sự đoàn kết, kẻ không lo, người không biết lo và người không dám lo cho lợi ích quốc gia dân tộc.
-Khác nhau vì chúng ta đã từng ở hai bên chiến tuyến.
-Khác nhau vì chúng ta đang mang tâm thế của “Bên thắng cuộc” và “Bên thua cuộc”. Mà cái “Cuộc” ấy đã qua đi 40 năm rồi, các đàn anh của chúng ta (Trong cuộc chiến) hầu hết đã cùng nhau về với Mẹ việt Nam rồi.
Em không muốn bàn thêm về CNXH, thứ mà người Nga và người Đức đã từ bỏ lâu rồi, thứ mà cả Anh và Em cùng bỏ công tìm và cùng không thể hiểu.
Hôm nay em chỉ tân sự cùng anh về CNXH ở Việt Nam và các Đảng viên ĐCSVN.
Anh biết đấy, về hiện tượng người Pháp vào VN, Tại sao họ vào, vào như thế nào và những gì đã xảy ra cho đến khi người lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên? Nhiều cái em còn chưa biết nên chưa bao giờ em dùng “Ngoa từ” để chỉ: Vị Vua nhà Nguyễn đã mượn Pháp, Chính quyền bảo hộ Pháp...
Nhưng sau đó có những làn sóng của người Việt quật cường tìm đường thoát Pháp. Em không nói đến những cuộc dấy binh khởi nghĩa vũ trang mà chỉ muốn nói đến những Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu những người có cách cứu nước dài hơi nhưng chắc chắn hơn.
Và Hồ Chí Minh, Người đã có những hoạt động ái quốc tại Âu châu, đến khi gặp CNXH mới thấy rằng CHXH là CON ĐƯỜNG để giải phóng dân tộc, theo những gì em được biết và hiểu thì Hồ Chí Minh (HCM) không phải là một người Cộng sản, CNXH chỉ là con đường, là phương tiện để HCM cùng người việt giải phóng mình chứ không phải là ĐÍCH ĐẾN của HCM và dân tộc.
Con người, tâm trí của HCM là DÂN TỘC, Theo chỗ em được biết thì Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng là một người tôn thờ DÂN TỘC. Và đã có những lúc hai con người ấy, một tư tưởng ấy dường như đã gặp và sắp gặp nhau sâu hơn.
Một nhà báo Âu châu đặt một câu hỏi rất đắt cho HCM:
-Ông có những ham muốn gì?
HCM đã không ngần ngại trả lời:
-Suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho dân tôi ai ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai ai cũng được học hành...
Em không nhớ chính xác những câu chữ tiếp theo nhưng nội dung là: Sau khi ham muốn ấy đã đạt được, tôi sẽ về quê với nếp nhà, ao cá, vườn rau..., tận hưởng nốt cuộc đời cùng cây cỏ thiên nhiên...
Lời nói ấy, của con người ấy, vào thời điểm ấy cho biết HCM không phải là một người CS bởi người CS có mục đích cuối cùng là Thế giới đại đồng kia. Ông là người suốt đời lo cho đất nước, dân tộc Việt Nam.
Khi kháng chiến đã thành công, việc giữ tên nước, đổi tên Đảng là Nước VNDCCH và Đảng Lao Động Việt Nam cũng thể hiện cái ý chí ấy.
Sai lầm và cũng là cái khó của HCM là sinh thời người không có điều kiện để thể hiện rõ ý chí ấy với dân và đặc biệt với những người đồng đội. Khi người còn sống, chính con đường người chọn và các đồng đội của người đã làm khổ người để khi người qua đời thì CON ĐƯỜNG đã được các đồng đội biến thành MỤC ĐÍCH.
Con người vốn như nhau, như anh Hai Rạch giá và như em Phẫu vậy thôi, nhưng khi được trao danh vọng và quyền lợi thì điều đầu tiên là người ta phải cố giữ cho bằng được..., Những người sau này là như vậy. Những điều anh em mình biết, họ có biết không ...? Họ biết quá đi chứ ...! Cả những điều anh em mình không biết... họ cũng biết, nhưng QUYỀN và LỢI thì không dễ ai từ bỏ, đặc biệt khó khi nó là “Tập thể”.
Một người, một lúc nào đó muốn làm theo lợi ích dân tộc nhưng những người còn lại có thế...? Nếu không thì liệu làm có được...? Không ít người đã vì dân vì nước mà bị hạ nhục, bị thiệt mạng... Những người sau, hỏi có còn dám...?
Đấy! CNXH ở nước ta, theo em hiểu là như vậy.
Nói về Đảng và Đảng viên.
Từ ngày thành lập đến khi có hiệp ước Giơ ne vơ thì Đảng CSVN là tập hợp những người yêu nước, dám xả thân vì nước.
Từ hiệp định Giơ ne vơ đến hiệp định Pa ri thì cơ bản vẫn vậy nhưng tổ chức đảng bắt đầu là nơi đến của những kẻ cơ hội, muốn tiến thân, ít nhất cũng không ít người vào Đảng chỉ để... “Cho oai”. Cũng cần nói rằng: ít nhất đến 1975, động cơ vào Đảng để làm giàu gần như là... không có!
Ngày đó khái niệm Đảng viên trước hết phải là một người có đạo đức tốt, người dám hy sinh quyền lợi, thậm chí tính mạng cho lợi ích tập thể, lợi ích đất nước.
Cái đáng tiếc là những người tốt, tích cực Việt Nam lại sinh hoạt trong và theo những nguyên tắc của Cộng sản, thứ có Đại bản doanh (Hay ngày ấy còn gọi là “Thành trì”) ở Liên Xô, Trung Quốc.
Kể từ 1975 đến nay, những người vào Đảng đa phần là cơ hội, vào đảng không cần phải hy sinh nữa, vào Đảng mới có cơ hội thăng tiến sự nghiệp... Biết làm sao được khi ĐCS là duy nhất lãnh đạo nhà nước này.
Cũng cần nói rằng ngay sau hiệp định Giơ ne vơ, Đảng của HCM đã có những người phá, và theo thời gian những người nhân danh Đảng để phá Đảng ngày càng nhiều.
Tôi đã thấy những người bất mãn, những người thành tâm thần, chỉ chưa thấy người tự vẫn vì Đảng thôi.
Thay lời kết tôi muốn nói với anh Hai rằng: Người tốt trong Đảng còn nhiều lắm, người nghèo trong Đảng cũng còn nhiều lắm! Nghèo hơn dân nhiều, nếu vẫn tuyệt đối trung thành với cách sống của một Đảng viên như ngày đầu....!
Tôi hết sức đồng cảm với anh Hai nhưng hình như anh Hai hiểu chưa hết về ĐCSVN cùng những Đảng viên rồi!
Thêm: Nếu anh Hai đọc bộ Hồi ký 30-4 của tôi sẽ thấy, tôi đầy tự hào vì đã cứu được ít nhất 5 người lính CNCH trong tháng 4 năm ấy.... Tôi cứu họ vì tôi tin chắc chắn rằng: Họ cũng như tôi!
Kính chúc anh Hai luôn khỏe!
Mong được làm thân với anh dài lâu!

Nguyễn Vinh Dũng\=-=-=-=

ÔNG LIÊN XÔ, BÀ TRUNG QUỐC

KHI HỌ THỰC LÒNG
(Chuyện kể của Bác sỹ Trung Híp Bệnh viện E)


Thời bao cấp, ở một vùng thuộc trung du Bắc bộ có một Đại công trường xã hội chủ nghĩa rất là..., hiện đại.
Ngay từ đầu, ta đã cho xây một ngôi biệt thự dành cho các chuyên gia nước ngoài. Với bà con ta lúc bấy giờ thì ngôi nhà nom rất lạ mắt, ngay bên đường quốc lộ, một cái cổng sắt rộng đến năm sáu thước, đường nhựa phẳng lừ dẫn chéo lên ngôi nhà nằm giữa đồi thông..., hai tầng, một trệt với những cửa sổ phía sau to rộng mở ra khu đập nước mênh mông. Người nước ngoài sướng thật..., trại sáng tác cũng chẳng đẹp bằng.
Đôi khi người ta cũng thấy chuyên gia là người Đông Đức, người Cu Ba nhưng bọn này chỉ ở vài hôm lại đi, còn thì chủ yếu có một thằng Liên Xô(LX) kỹ sư lắp máy và một thằng Trung Quốc(TQ) kỹ sư hóa học ở từ đầu đến cuối.
Do tính cách khác nhau và có lẽ cũng do mâu thuẫn giữa anh cả anh hai trong phe XHCN nên hai thằng tuy ở chung một nóc nhưng không thể hòa hợp.
Hôm mới đến, thằng TQ nhanh chân xí ngay cái giường bên cửa sổ nhìn ra mặt hồ, nó đắc chí lắm, mỗi khi về cái góc đẹp của mình nó lại liếc mắt nhìn thằng kia tủm tỉm cười.
Không biết thằng Nga ngố có nhận ra sự thiệt thòi của mình hay không nhưng chẳng  thấy nó biểu hiện gì.
Thằng Tàu càng để ý, càng soi mói càng ngộ ra rằng thằng Nga cố tình làm như không có sự hiện diện của thằng Tàu trong căn nhà..., đi làm về nó tụt quần áo bảo hộ, còn độc cái xi líp, thản nhiên vào ra toa lét, miệng không ngớt huýt sao hay..., hát ổng ổng, chẳng bao giờ thằng Tàu thấy nó nhìn trộm mình như mình vẫn thường nhìn nó.
Có mỗi một khu bếp nhưng hai thằng ăn khác nhau. Thằng Tàu thì ăn cơm với những thứ gì mà cứ phải ngâm ngâm, tẩm tẩm với những gói bột mà nó mang theo. Thằng Nga thì chỉ bánh mỳ với khoai tây hầm thịt mà nó gọi là Xúp.
Chúng nó chẳng mời nhau bao giờ, nhưng như thế lại may bởi chỉ cần nhìn và ngửi thức ăn của thằng này, thằng kia đã buồn nôn, không nói ra nhưng thằng nọ luôn coi thằng kia là... mọi rợ!
Khi tiếp khách hay ra ngoài đường, thằng Tàu luôn mặc bộ Đại cán phẳng phiu, nó cố tình bước đi đĩnh đạc, đầu luôn ngẩng cao. Sinh hoạt trong nhà, ít khi thấy nó mặc áo may ô ba lỗ, nóng mấy cũng chui vào cái áo cộc tay và cái quần sooc dài chấm đầu gối.
Thằng Nga, mỗi lần ra đường là một dịp để nó khoe những chiếc áo phông, áo đuôi tôm, quần bò, quần loe đủ loại màu sắc sỡ, không biết may bằng cái giống gì mà chẳng mấy khi thấy nó là quần áo, giặt phơi xong, nó vơ vào tủ, nhét như mớ nộm, lúc lôi ra mặc vào người, nó nhàu nhĩ như cái rẻ rách, thế mà chỉ kéo vái cái rồi đi ra đến đường là các nếp nhăn biến mất. Ở nhà thì như đã nói rồi đấy, nó thường xuyên mặc mỗi cái xi líp, để lộ đầy lông lá..., mà cứ đi lại tỉnh bơ như coi khinh thằng kia vậy...
Những lúc rỗi rãi, thằng Tàu thường ngồi bên cửa sổ đọc sách, đôi khi cũng tủm tỉm cười, nó tỷ mỷ chăm sóc mấy cây cái cây cảnh, có khi ngắm nghía trầm ngâm rồi lại mỉm cười một mình đầy bí ẩn..., mọi thứ của nó, cái nào cái ấy cứ nghiêm như một đội quân đang diễu binh. Cái chiếu nó mang từ quê nhà sang lúc nào cũng phẳng lừ, cái vỏ chăm Con Công, màn, gối ngoài lúc ngủ là lại vuông vắn phẳng phiu. Lấy quyển sách nào ra, đọc xong nó lại để đúng chỗ cũ, trật tự trong tủ quần áo cũng hệt như trong tủ sách, cái nào cũng có vị trí của nó.
Trái lại, thằng Nga thường mở nhạc thật to, cứ như thể nó bị điếc vậy, đôi loa thùng to như cái tủ, cái loa Bast to như cái đĩa tây, thường mỗi khi uống rượu say nó mở hết cỡ, cái phần ở giữa cái loa to bằng cái bát con cứ đấm ra đấm vào, rung lên bần bật..., thế mà mãi không rách. Thứ bảy, chủ nhật, nó lôi đâu được mấy đứa đàn bà (nghe nói có quá khứ ở châu âu, tóc phi dê, môi đỏ toe toét) về nhảy nhót choi choi, thi thoảng lại rú lên thác loạn..., rồi chúng nó trơ trẽn ôm nhau.., hôn nhau..., có khi một con mất dạy còn ngủ lại với thằng Nga qua đêm. Những lúc như thế, thằng Tàu khó chịu lắm nhưng nó cố nhịn không biểu hiện gì.
Nó nhếc mép cười gượng gạo như để chào mấy con mất nết nhưng ánh mắt thì khác hẳn, nếu nụ cười có thể ví với một trái cây chỗ xanh chỗ chín, chỗ bị sâu ăn nham nhở thì ánh mắt của nó sắc như lưỡi dao găm và lạnh như họng súng giảm thanh, nó như bảo mấy con kia rằng; Chúng mày quên mất gốc Châu Á à...? Chúng mày định chọc tức tao à, chúng mày có hiểu thế nào là “môi hở răng lạnh” không...? Hãy đợi đấy...!
Thoạt đầu nó khó sử, góp ý với chúng nó ư...? Không...! Hãy để cho chúng nó hư hỏng, càng hư càng tốt, càng nhiều đứa hư càng tốt. Rồi sẽ có ngày lũ hư hỏng này nó treo cổ thằng Bờ-Rê-Dê-Nhép lên để nó hết hống hách và khi đó thành trì XHCN dù nặng đến mấy cũng phải tự bò về Thiên An Môn.
Báo với lãnh đạo Việt Nam ư...? Không...! Ngoài mục đích trên thì nó còn muốn xem cách làm việc và thái độ của Việt Nam thế nào.
Bỏ ra ngoài ư...? Không...! Thế chả hóa ra mình thua, mình trúng kế thằng Nga sao.
Nhưng cứ thế này thì nó tức, sợ một ngày nào đó không thể kiềm chế nổi nó sẽ làm hỏng mất “Đại cục”.
Sau, thằng Tàu tìm ra được một kế, kiếm đâu được cái Ra-đi-ô-cát-sét-te bỏ túi, mỗi lúc như vậy nó lại nhét hai cái loa bé xíu vào tai rồi thản nhiên sinh hoạt bình thường.
Cuộc sống như vậy đến hơn hai năm. Thằng Nga cố trêu, thằng Tàu cố tỏ ra không tức. Bọn kỹ sư bản địa xì xào với nhau rằng trong nhà chuyên gia có một quả bom nổ chậm không biết bao giờ sẽ phát hỏa.
Thế nhưng quả bom ấy đã không và sẽ không bao giờ nổ... bởi một hôm, ngòi nổ đã được rút...
Việc thằng Nga say rượu phóng cái xe Bốt-Khốt nổ váng tai, bụi và khói mù trời đã trở thành quen thuộc với bà con trong vùng, chẳng ai khó chịu, người ta còn tươi cười vẫy tay nói với nó những câu; Sờ-rát sờ vui che...! Kha ra xô...!
Đêm ấy nó lại say, cái Bốt-Khốt lao thẳng vào cánh cổng đang đóng..., may cho nhà nó.., một là nó lao vào cái phần lưới B40 đã cũ nên cứ như lao vào đệm vậy, hai là vì say khướt nó chẳng giữ nổi tay lái cho con ngựa sắt văng ra, lao thẳng xuống khe. Còn nó, chỉ mài cái mũi lõ độ một mét trên đường nhựa rồi ..., giang chân giang tay..., ngủ như chết.
Trên nhà, đang lơ mơ ngủ, thằng Tàu nghe rõ tiếng Bốt khốt to dần, nó nghĩ bụng, lại sắp sửa đây..., chỉ cần nghe tiếng máy là nó biết thằng kia nốc nhiều hay ít. Đang quờ tay tìm cái tai nghe để nhét vào lỗ tai cho dễ ngủ bỗng... “Rầm!” nó biết chắc là thằng kia đã đâm vào cổng nhưng sau đó tiếng xe đập vào cái gì mà nghe chát chúa thế...? Tiếng động cơ tắt lịm..., đêm trung du lại trở về tĩnh mịch với tiếng cóc nhái, giun dế...
Tỉnh hẳn, thằng Tàu thò đầu ra khỏi chăn mỉm cười. Mẹ cha mày...! Sướng chửa con...! Biết đâu, từ nay chả được hưởng yên tĩnh vĩnh viễn... Đoạn nó kéo chăm trùm kín đầu chờ đợi, chờ mãi..., chờ mãi mà không thấy tiếng rên rỉ, chẳng có tiếng của bước chân loạng choạng, đèn không bật sáng… Bỏ mẹ...! Hay nó chết thật...!
Thằng Tàu lồm cồm ngồi dậy suy tính..., không được...! Phải xuống xem sao... Một là để tận mắt thấy thằng khốn lâm nạn thế nào, hơn nữa là để dễ ăn dễ nói với tình anh em XHCN.... Chỉ có mày không tốt với tao chứ tao thì...
Khoác cái đại cán ruột bông vào vai, vơ cái đèn pin, mở cửa, thằng Tàu lật đật đi xuống. Thấy thằng Nga mặt mũi be bét máu nằm ngáy vang ngon lành.... À...! Ra nó chưa chết...! Nhưng cái xe đâu...? Hay nó bị cướp? Thằng Tàu dùng đèn tầm xoát một hồi mới phát hiện cái Bốt khốt bẹp dúm dưới khe.
Trời rét căm căm, khác với bên chúng nó, cái lạnh ở đây nó buốt đến tận xương tận tủy. Thằng Nga chưa chết nhưng cứ để đây vài tiếng nữa nó sẽ chết vì lạnh thôi. Không thể làm thế được! Thằng Tàu ì ạch cõng thằng say lên nhà, đặt lên giường, lau rửa và băng bó các vết thương. Thằng Nga không biết gì, người nó mềm nhũn nhưng khi bị chạm vào chỗ đau nó vẫn nắm được cổ tay thằng Tàu, bàn tay lông lá nhưng mềm và ấm thế, thằng Nga khe khẽ rên.
-Má ma...!                    
Bất giác, thằng Tàu ngắm kỹ khuôn mặt thằng Nga, sao nó hiền thế... sao không hề giống cái mặt đỏ lự đáng ghét khi uống rượu, hoang dại khi nhảy nhót hú hét. Tiếng kêu “Mamma” của thằng cùng cảnh xa nhà khiến thằng Tàu nhớ về mẹ mình, rồi nó tưởng tượng ở nước Nga băng tuyết cũng có một bà mẹ đêm nay không ngủ vừa nghe được tiếng gọi yếu ớt của thằng con…
Thằng Tàu không ngủ được, lấy nước nóng lau người cho thằng say, đắp ấm cho nó rồi lặng lẽ ngồi đọc sách bên giường…
Sáng hẳn. Thằng Nga tỉnh giấc, nó sờ xoạng khắp người, ví tiền vẫn trong túi quần, đồng hồ vẫn trên tay, cái bút bi vẫn trong túi ngực... Bất giác nó ngỡ ngàng thấy thằng Tàu nhìn nó trìu mến.
-Bạn tỉnh rồi hả...? Sao uống nhiều thế...!
Thằng Mũi lõ nhìn chằm chằm vào thằng mũi tẹt. Thật đấy ư...? Có đúng nó đang nằm trên cái giường của nó, trên đệm êm, dưới chăn ấm không...? Nó đã ngã ngoài cổng cơ mà...., đã không thể gượng dậy mà bò về nữa cơ mà... Sờ xoạng toàn thân một lần nữa, bàn tay nó dừng lại nơi cái mũi đã được băng bó, thằng Nga nhổm ngồi dậy hỏi dồn dập.
-Bạn à...! Tôi chưa chết sao...?
-Không! Bạn chỉ say thôi...!
Nhìn thấy vết máu nơi vai áo thằng Tàu, nó hỏi.
-Bạn đã cõng tôi về nhà...?
-Phải...!
Nhìn xuống hai tay mình sạch sẽ, nó lại hỏi.
-Bạn đã lau người cho tôi....?
-Phải...!
-Bạn đã băng bó vết thương cho tôi....?
-Phải...!
Thằng Nga không dám nhìn vào thằng Tàu nữa, ngẩn mặt lên trần nhà hồi lâu, khi cúi xuống, bắt gặp cốc nước chanh còn dở trên bàn, nó liếm mép ngẫm nghĩ rồi lại hỏi.
-Bạn đã cho tôi uống nước chanh...?
-Phải...!
-Bạn đã thức cả đêm để trông nom tôi...?
-Phải...!
Thằng Nga tiến đến bên người bạn, mắt nó cay cay, tay nó run run vụng về nắm lấy tay thằng Tàu.
-Bạn ơi...! Bạn tốt thế mà tôi không nhận ra... Tôi ân hận quá...! Tôi ân hận vì đã cố tình làm phiền bạn rất nhiều... Giờ đã hiểu bạn… tôi hứa, vâng, tôi hứa với bạn, từ nay, tôi sẽ không mở nhạc to, không uống rượu, không mang gái về để trêu bạn nữa… tôi thề với bạn đấy...!
Các bạn có tưởng tượng thế nào không...? Thằng Tàu không thể lạnh lùng được nữa, ôm chầm lấy bờ vai thằng mũi lõ nó nấc lên từng tiếng.
-Thôi...!.. Bạn đừng nói nữa!.. Tôi..., tôi cũng..., cũng ân hận lắm...! Bạn đã thực lòng như vậy …! Tôi..., tôi cũng ... hứa … À không...! Tôi cũng thề với bạn … Từ nay... Vâng...! … Từ nay... tôi… tôi sẽ không bao giờ… Vâng...! Sẽ không bao giờ … tôi … tôi …, Đái vào nồi xúp của bạn nữa...!