Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

TRIỂN LÃM VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT....!

Triển lãm CCRĐ
Cố gắng tìm một ví dụ minh họa cho CCRĐ nhưng không thể tìm được ví dụ thật điển hình, thôi thì nôm na thế này.
Trên mặt người nọ có mấy con ruồi, người “Đầy tớ” trung thành lấy cái sẻng đập một phát..., lũ ruồi chết hết, nhưng mũi người chủ tụt vào trong..., môi miệng rách tả tơi..., răng rụng già nửa..., thị lực từ đó gần như ... mù, và cũng từ đó đến nay không ai nhận ra mặt ông chủ nữa.
Khi “Kiểm điểm”, tên đầy tớ ra sức nói về tác hại của những con ruồi, mỗi cái lông chân ruồi có bao nhiêu loại vi trùng, mỗi loại bao nhiêu con, những loại ấy có thể gây những bệnh gì, rồi nhân với số lông trên một chân..., rồi nhân với số chân..., lại nhân với số con..., và nếu ông chủ “Mắc dịch” sau đó lây sang cộng đồng.... bao nhiêu người sẽ chết..., hậu quả thật không thể nào kể hết...!
Hắn cũng nói về những hệ quả để lại trên bộ mặt ông chủ nhưng đó là chuyện ..., nhỏ, nhỏ trước hết vì ông chủ vẫn sống, vẫn ăn được ..., đi ị được...! Và nếu so sánh với đại dịch có thể nổ ra thì sự hy sinh của ông chủ không phải là nhỏ mà là ... quá nhỏ...! Thành công không chỉ lớn mà là ... “Cực kỳ vĩ đại!”.
Nhận định của tôi về cải cách ruộng đất là như vậy!
Trong bối cảnh lúc ấy:
-Đa số nông dân đã bị bần cùng hóa, mười năm sau cái nạn đói đã cướp đi gần 2 triệu người, cảnh thiếu ăn vẫn phổ biến trong dân chúng.
-Những thách thức của cuộc kháng chiến đòi hỏi phải động viên sức dân.
-Cải cách kinh tế là tất yếu của chính quyền mới.
-Đã chọn con đường XHCN, đã tuyên chiến và gọi chế độ khác XHCN (Tư bản và Phong kiến) là kẻ thù, không còn cách nào khác là phải “Dựa hẳn vào” Liên Xô và Trung Quốc, họ giúp vật chất, đương nhiên họ áp đặt tư tưởng, đường lối.
Những cái được của CCRĐ
-Dẫu sao thì người cày cũng đã có ruộng.
-Quan trọng hơn là tạo được khí thế trong đa số dân chúng, và quan trọng hơn nữa.
-Tạo được niềm tin đến mức... “Cuồng tín” vào lãnh đạo mới, chế độ mới trong số đông dân chúng, từ đó..
-Tạo sức mạnh của bạo lực cách mạng, sẵn sàng đè bẹp ý chí của đối thủ bất luận đúng sai (Đối thủ, không phải lúc nào cũng là của cách mạng mà là của cá nhân nào đó nhưng chỉ cần kích động quần chúng, vu cho người ta tội “Phản động”..., thế là dẹp ngon)

Những cái mất, những tác hại của CCRĐ.
2.1-Mất đi những nhân tố tích cực trong nền nông nghiệp lạc hậu.
Để thành công, trước hết các Địa chủ phải là những người làm ăn giỏi và quản lý giỏi, sau đó, khi đã có nhiều ruộng, nhiều của mới phát canh thu tô, cho vay nặng lãi... Không thể tránh khỏi những thất thế, thiệt thòi của những người làm thuê, người đi vay trong quan hệ Địa chủ-Nông dân.
Trừ những Địa chủ có nguồn gốc Quan chức chính quyền thì cho đến nay, mặc dù đã giết hầu hết Địa chủ, tìm mọi cách để bôi xấu danh dự của họ trong liên tục 60 năm nhưng tôi chưa thấy ở đâu, chưa thấy ai kể ra được chuyện Địa chủ “Cướp đất trắng trợn, cướp không” đất của nông dân..., đất của họ đều do mua (Tậu) hay gán nợ.
Cũng như bây giờ, nếu loại đi (Không nói đến) những kẻ tham nhũng thì ai chịu khó, nhanh nhạy, tiết kiệm, biết chi tiêu (Tức là biết sử dụng đồng tiền hữu ích) thì sẽ dần trở nên giàu có.
Ngược lại, nếu không kể những người gặp những không may ngoài mong muốn thì những người lười biếng, không nhanh nhạy quyết đoán, sống hưởng thụ quá khả năng của mình, hám lợi nhưng không tỉnh táo nên bị lừa đảo.... sẽ dần khánh kiệt.
Như vậy, CCRĐ đã tiêu diệt gọn, tiêu diệt hết những người, những nhân tố tích cực ít ỏi của nền nông nghiệp Việt Nam lúc bấy giờ
2.2-Những nhân tố tích cực trong đời sống văn hóa xã hội.
Cho đến bây giờ, nước ta vẫn là một nước nghèo, nghèo cả về kinh tế và văn hóa, nói chi cách đây 60 năm nhưng ngày đó, trong mỗi đơn vị xã hội, từ gia đình, dòng họ, xóm, làng đều có những trật tự kỷ cương nhất định.
Trong mỗi đơn vị ấy luôn có một người giữ trọng trách với những thành viên còn lại, tạo dựng, duy trì một nề nếp riêng trong nề nếp chung, luân thường đạo lý được coi trọng.
CCRĐ, mà con tố mẹ, cháu tố bà, gọi những người đáng ra phải kính trọng là “Thằng”, là “Con”, xưng Ông, xưng bà cả với bố mẹ, ông bà mình thì không còn gì để nói...! Tất cả những gì gọi là di sản văn hóa bị CCRĐ xóa sạch ...! Và tiếp tục xóa trong thời gian sau đó, quyết không để “Địa chủ ngóc đầu dậy”.
Tuy vẫn có người, có gia đình vẫn coi trọng, vẫn ít nhiều giữ được nếp cũ nhưng nhìn chung, ảnh hưởng của CCRĐ về văn hóa không biết đến bao giờ mới khắc phục được...! Nó có trong lối hành xử trắng trợn, trong lối giao tiếp, trong cách nghĩ của đa số dân chúng ngày nay.
Ruộng đất, sau khi cướp từ tay Địa chủ, chia cho dân nghèo, gom lại vào HTX, rồi lại chia ra theo khoán 10...
Bây giờ, những người có thần thế trong xã hội (Đa số là những nhà “Quan cách mạng”) với túi tiền khổng lồ rút ra từ thuế của dân, từ nguồn vay mà con cháu toàn dân  sẽ phải trả..., dưới danh nghĩa “Dự án” này, liên doanh nọ, rồi manh dah “Nhà nước” ra để “Thu hồi” đất ...
Chưa phải hết, chưa phải tất cả nhưng họ có thể thu hồi ở bất cứ đâu mà họ muốn..., chỉ cần lập cái “Dự án” nghe kêu kêu, rất có tác dụng với dân, như “Làng văn hóa, trại dưỡng lão..., trung tâm này nọ...., trình nhà nước kèm theo những khoản tiền đút lót rất lớn so với Quan nhưng rất nhỏ so với giá trị miếng đất..., lo tiền đến bù theo ... “Giá nhà nước”... thế là thành ... Địa chủ mới.
Thế là người cày hết ruộng, người nông dân Việt Nam lại bần cùng hóa..., một loại Địa chủ mới hình thành mà không cần giỏi làm ăn, giỏi quản lý, không cần ăn dè hà tiện... Địa chủ cũ và loại Địa chủ mới có bản chất, nguồn gốc khác hẳn nhau như vậy.
Từng thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút khăn lau nước mắt vì CCRĐ, từng nghe trong các nhà lãnh đạo đảng và Chính phủ sau này có những người muốn thay mặt đảng và nhà nước xin lỗi dân về CCRĐ ...
Khi một chuyện đã rồi, nếu người ta thực lòng biết lỗi, thực lòng xin lỗi thì mới có cơ sở để hy vọng người ta không mắc lỗi nữa...

Lại thấy triển lãm CCRĐ khuếch trương những thắng lợi vĩ đại của nó mà ... giật mình...!

THẰNG CƯỜNG - Tuổi thơ

Các bạn thân mến!
Bắt đầu từ hôm nay, tôi trân trọng giới thiệu bộ hồi kỹ của người bạn nhờ tôi chắp bút. Hồi ký cá nhân, người kể cứ kể, người viết cứ viết... Những kỷ niệm, đương sự không muốn bỏ qua nhưng khả năng người viết lại có hạn nên nhiều khi rời rạc.... Nhưng, cứ theo một con người, ít ra ta cũng thấy đôi điều trong đời sống xã hội mà thế hệ chúng tôi đã được và phải qua.
Trân trọng những ý kiến đóng góp!
Nguyễn Vinh Dũng
=-=-=-=-=



Họ có nhiều nguyên do để thân nhau, nếu bà Như một mình nuôi năm đứa con thì bà Côi cũng gần như một mình nuôi bốn đứa. Cái số năm và bốn kia không có nhiều ý nghĩa bởi có thêm hay bớt, một hay hai thì cũng chẳng sao..., đứa lớn sẽ trông đứa bé và đứa nào cũng sẽ có việc của đứa ấy, đáng nói là cái sự “Một mình” kia.
Ông Côi là người tỉnh xa, làm cái gì đó ngoài phố, chẳng hiểu có phải vì mặc cảm không muốn ở quê vợ hay còn những lý do gì nữa mà ông ít về. Vài tuần, có khi vài tháng người ta mới thấy bóng ông, tiếng thì còn hiếm hơn nữa, ông chỉ trả lời một cách tối thiểu những người chào hỏi mình.
Gọi là ở ngoài phố nhưng ông không làm việc cho cơ quan, nhà máy nào …, ông làm ngoài. Ở cái thời kinh tế tập trung những người “Làm ngoài” được xếp vào loại không “Cơ bản”, giỏi lắm thì tháng mười năm cân gạo, cái “bìa A” được mua mấy bìa đậu, bốn lạng thịt, tí xì dầu…, với khoảng hơn ba mươi đồng tiền công thì... nuôi ông đã khó, làm sao đỡ được vợ con.
Ông Như là con nhà địa chủ, tiếng tây tiếng ta đều giỏi lại có máu nghệ sỹ, văn thơ ông rất hay, vẽ cũng đẹp, lại còn chụp ảnh nữa... Thời buổi đảo điên, từ một thư ký, thông ngôn cho tây với đời sổng đủng đỉnh, người ta thấy ông hoạt động du kích rồi lại thấy ông mặc áo lính tây... Diệt tề, bố ông..., cụ Đồ nho bị Việt minh giết, sợ quá, ông trốn xuống Hải Dương làm Pô-lít.
Thời nào thì Pô-Lít cũng thế thôi, cũng đi dẹp đường, bắt mấy thằng ăn cắp, mấy đứa đái bậy… và tối về cũng phải ăn cơm. Nhưng mà ông bỏ nhà trốn xuống đây có một mình cho nên phải ăn cơm hàng..., mà bọn hàng cơm sợ ông phải biết.
Ôm nỗi buồn về sự đổ nát của một đại gia đình mà lẽ ra ông phải làm trụ cột, lại buồn vì con người ông, lẽ ra thuộc về văn chương nghệ thuật ấy thế mà phải cầm roi đi đuổi mấy bà bán hàng rong. Thế là tối nào ông cũng uống rượu, ông uống cho say để khi lên giường không phải nghĩ đến những việc lẽ ra ông “Phải làm” và những việc lẽ ra ông “Được làm”.
Cô hàng cơm từ dưới Nam Định lên mang theo đứa em gái giúp việc, đêm nào cũng phải hầu ông Pô-lit say mèm.... Thế rồi họ có với nhau một đứa con gái, đem nhau đi Hải Phòng, đẻ thêm bốn đứa nữa là năm, cộng với năm đứa con bà Như ở quê... vị chi là mười.
Ngày ấy, muốn nuôi được nhiều con thì phải có tiêu chuẩn cao, nếu là bộ đội phải trung úy trở lên, ở dân sự phải làm Giám đốc, những việc… “Không ai cho ông làm”. Nếu làm ngoài thì chỉ có bán phở hay chữa xe đạp, những việc…. “Ông không biết làm”.
Ông vẽ đẹp và chụp ảnh đẹp lắm nhưng ngày đó không ai cần những thứ ấy, thế là mấy ngón nghề của ông cũng coi như… vứt đi!
Tây về nước rồi, chẳng ai cần thông ngôn nữa..., chữ Nho không ai học..., thế là những món đặc biệt của ông cũng coi như..., vứt!
Chỉ còn mỗi cái tài văn thơ.... vụ Nhân Văn-Giai Phẩm may mà ông chỉ là loại tép riu người ta không thèm để mắt tới nhưng cái trí của ông, cái hồn văn chương của ông thuộc về hệ tư tưởng ấy thế nên viết cái gì..., viết làm sao để giữ yên cho gia đình..., giữ yên được cái mạng là..., khó lắm.
 Tháng đôi lần ông có bài đăng báo, lúc thì đả kích Mỹ Ngụy khi thì châm chọc những thói hư tật xấu trong đời sống dân chúng. Mỗi bài nhuận bút năm đồng, vị chi mỗi tháng ông kiếm thêm mười đồng cộng với hơn hai mươi đồng tiền lương giáo viên, cứ cho là bốn mươi đồng, mà riêng nhà ông ở Hải Phòng đã bảy miệng ăn, năm miệng học…làm sao ông giúp được bà Như ở quê...!
Thôi thì trời sinh voi sinh cỏ, mẹ con chúng nó, rau cháo, ngô khoai rồi cũng chẳng đứa nào chết vì đói đâu mà sợ.
Thế là hai bà có chồng mà cũng như không, những tâm sự chỉ có thể thổ lộ với người cùng cảnh.
Nhà họ liền nhau nhưng xa ngõ thế nên cái hàng rào duối bao giờ cũng được bớt lại một cái khe đủ cho người lách qua.
Bà Côi chỉ có mình thằng cả là trai, bà Như chỉ có mỗi đứa thứ hai là gái, ngoại trừ thằng cả nhà bà Như thì những đứa còn lại cứ từng cặp, từng cặp đến lớp cùng nhau... Mẹ chúng thân nhau là việc của người lớn, trẻ con thì khác, chẳng có cặp nào cùng giới nên chúng ít quan hệ, ngày ấy..., ghét bạn khác giới mới là “bình thường”, thân mật một chút thì... “Xấu” lắm.
Có lần, con lớn nhà bà Như tổ chức các em cảnh giới rồi giữa trưa, nó trèo lên cây cau bên này hái trộm ổi bên kia, nào ngờ thằng bạn học cùng lớp với nó, đứa con trai duy nhất trong nhà bà Côi, cảnh giác cao phát hiện được. Cầm hòn gạch trong tay, tức lắm mà nó không dám ném..., nó sợ hai bà mẹ..., vả lại con kia có trèo ổi nhà nó đâu, đã sang địa phận nhà nó đâu..., thế nên nó chỉ dám chửi..., những câu chỉ có nhà chúng nó mới dùng để chửi.
-Ê! Đồ ăn trộm...!             
Bị bắt quả tang, con bên này không kịp chạy nó đành giở võ cùn, cứ quắp chặt thân cây cau mà cãi lại.
-Nó thò sang nhà bô, thì bô cứ trẩy...!
Có tiếng bà Côi trong nhà vọng ra chỉ đủ cho thằng con bà nghe.
-Co… on! Va..a..ào…! Kệ cho em nó hái vài quả..! Mày dọa..., nó sợ, ngã thì chết bây giờ.
Thằng kia vùng vằng ném tòm hòn gạch xuống ao rồi phủi tay đi vào, không quên giơ nắm đấm dứ dứ về phía con bên này. Thoát nạn, con bên này cũng hất hất cái cằm về phía thằng bạn ý nói “Thấy chưa...! Bô cóc sợ...!”
Mặc cho túng cho thiếu, họ cứ sống bình yên như thế, năm 68, hai thằng lớn cùng đi bộ đội, chúng nó đóng ở tận Nho Quan Ninh Bình, nghe nói sắp đi B, không khí ảm đạn bao trùm lấy họ. Vừa mới có dáng dấp đàn ông trong nhà đã phải đi, mà đi thì khó về lắm. Loa phóng thanh thì ngày nào cũng đưa tin thắng trận, khi hứa, khi hẹn nhau điều gì, người ta quen dùng cụm từ “Ngày mai thống nhất thành công”, câu này không biết của vị lãnh đạo nào nói trước nhưng rồi cả nước cùng theo. Biết bao giờ cho đến “Ngày mai”. Đám đàn ông con trai ra đi chẳng thấy ai về. Mấy thằng hèn nhát bỏ trốn (còn gọi là “đảo ngũ”, hay “B quay”) thì cũng bị bắt ngay đi cải tạo, người ta nói với mấy thằng choai choai thế này.
-Mai chúng mày đi thì đừng về như thế …, có chết thì chết thật một mình, đừng để chết dở cả nhà.
Lâu lâu lại có tin đồn thằng này thằng kia đã chết, đồn mãi rồi cũng có giấy báo tử, được làm lễ truy điệu ở xã.
Hai bà càng gần nhau hơn, tối tối, họ ăn trầu nói chuyện như để xua đi sự thật, để chia xẻ cái sợ hãi. Chúng nó thư về, sắp đi B thật rồi. Lòng thương con, nỗi hoảng sợ bị đẩy lên đỉnh điểm, hai bà tính chuyện thăm con một lần cuối.
Từ làng Canh đi Nho Quan ngót trăm cây số, không xe cộ, không tiền bạc, chỉ có lòng những người mẹ là vô hạn. Họ nấu chè bà cốt, thứ đồ ăn nấu bằng gạo nếp và mật mía, khi để nguội nó rắn đanh lại như cục gạch cháy, không thể thiu được, dùng dao dựa và chày giã cua chặt thành những miếng nhỏ, làm thứ ăn đường. Quà cho con là muối vừng, ớt khô, tỏi, trà, mấy lạng thuốc lào, thuốc lá sợi, những thứ hy vọng giúp được chúng nó qua cơn sốt rét rừng.
Biết chuyện, ông Côi về, lắng nghe kế hoạch, lặng nhìn những thứ họ chuẩn bị, trầm ngâm hồi lâu, với cái điếu rít liền ba vê thuốc lào, chống điếu đứng dậy, ông nói nhẹ nhưng cương quyết.
-Thôi! Để tôi đi...!
Sửa lại cái xe đạp, buộc vào lỉnh kinh những thứ hai bà chuẩn bị, ông Côi đạp vào tận Ninh bình thăm con.
Thế hệ 7X lại đây khó mà tưởng tượng được việc ông làm khi đó nó khó khăn và mạo hiểm đến thế nào…
= = =
Nhưng phúc nhà hai bà còn to, trên đường đi B thằng con bà Như được chuyển vào trường lái xe, thằng con bà Côi, vào tít tận Quảng Bình lại được quay ra học hậu cần, thôi...! Thế là còn hy vọng!
Bên bà Côi còn ba đứa con gái, đương nhiên là chúng nó có tên, mà tên đẹp hẳn hoi Lương, Hợp, Hòa, nhưng bà vẫn quen gọi chúng là Gái Lớn, Gái Nhỡ, Gái tý. Bên này, bà Như còn bốn đứa, đứa con gái thứ hai, đồng môn với thằng Kim, tiếp theo là ba thằng; Khánh, Cường, Hùng, lần lượt đồng môn với ba gái bên ấy.
Gái Lớn thì cũng như con Thuấn bên này, tuổi chúng nó khổ, Mẹ nghèo lại đông em, chúng phải làm việc nhiều hơn và nặng hơn, ăn theo tiêu chuẩn như nhau, mặc thì chẳng có gì mà ưu tiên.
Được cái sức trẻ, làm việc ngoài đồng rồi còn nhà cửa, vườn tược, bếp núc…, những việc không thể liệt kê hết..., làm việc quần quật cả ngày mà chúng vẫn vui hơn hớn,.
Thế hệ chúng nó ít cô xinh đẹp, đứa nào đứa ấy da dám nắng, tóc thì dày quăn lên…, mà có đẹp cũng chẳng ma nào ngắm, đàn ông đi hết rồi còn đâu...!
Gái lớn học cùng thằng Khánh, hết phổ thông nó vào trung cấp y rồi làm việc ở bệnh viện huyện. Sau khi ra trường, đã có lúc nó thành chỗ dựa cho cả nhà, đến khi anh và các em đã khá giả thì nó bị một tai nạn thương tâm lắm, cả một cái xe vận tải hạng nặng lăn qua…, người ta phải vét những phần cơ thể nó trên đường. Kẻ độc địa, người ghen ghét thì bảo tại nó làm ở khoa phụ sản, nạo thai nhiều quá nên bị báo oán. Khốn nạn...! Bao giờ cho dân ta khá hơn được nhỉ...! Ở ngay Hà Nội, thủ đô của một nước “Nghìn năm văn hiến” mà hễ có ai, hễ nhà nào gặp hạn là người ta nghĩ ngay ra những cách giải thích ... “Giết người” như vậy.
Còn nhớ, hai anh em nhà Bơ Gạch, Cả Ngói có hai đứa con gái, chả biết mắc bệnh gì mà xuốt đời chỉ ngọ ngoẹ trên giường, bố mẹ giấu biệt trong buồng, thương lắm nhưng họ không dám cho chúng ra đến ngoài hè mà hưởng chút ánh sáng. Giá như bây giờ, thể nào người ta cũng tìm được một người có liên quan đến chất độc màu da cam, biết đâu chả kiếm ối tiền… Nhưng ngày ấy chưa có “Chất độc màu da cam” nên người ta phải tìm ngược gia phả và phát hiện ra rằng; cụ ba đời nhà chúng nó làm nghề ba toa, giết nhiều lợn quá nên giờ chúng nó phải chịu tội.
Thằng Khánh học hết lớp mười cũng là lúc rục rịch khám nghĩa vụ quân sự, bà Như hoảng quá, hơn hai năm rồi bà thấp thỏm với thằng cả, nó có được sống không...? Bao giờ nhận được tin nó chết...? Lòng bà tan nát, sức bà kiệt quệ… Nếu ai đã từng xem con gà mái ấp trứng, nó xù lông, dang cánh, kêu lên những tiếng khiếp người khi có bất cứ con gì đó đến gần kể cả con người, thậm chí khi chủ nó thò tay vào kiểm tra trứng cũng rất có thể ăn một phát mổ nên thân... Ai đã từng chứng kiến nó cũng dang cánh xù lông chiến đấu với con rắn, con quạ định lăm le ăn thịt con nó ..., sẽ hiểu được nỗi lòng người phụ nữ với con.
Bản năng người mẹ thôi thúc bà phải làm tất cả, phải chiến đấu với những thứ mà bà vẫn khiếp sợ cho sự an nguy của các con.
Cạy cục nhà anh Chính trên Hòe Thị, bà xin cho nó vào công nhân quốc phòng. Công nhân quốc phòng tức là gần giống bộ đội, cũng mặc quần áo và sinh hoạt như lính nhưng thay vì ra mặt trận đánh nhau, chúng được ở hậu phương sản xuất súng ống đạn dược gì đó.
Thế là tốt rồi! Thằng Khánh học sơ cấp ở thị trấn Vôi, rồi nó được học tiếp trung cấp, tốt nghiệp, được giữ lại trường làm anh Thủ thư ôm cái máy chiếu bóng phục vụ thầy trò trong trường và thi thoảng cho bà con địa phương.
Những năm ấy (73-74), nó yêu một cô cũng là công nhân quốc phòng, đã mấy lần nó đưa người yêu về nhà, bà Như không biểu hiện gì nhưng trong bụng không ưng. Con bé được cái trắng trẻo nhưng béo quá cứ như người không có cổ, lại quê ở Hải Phòng nơi mỗi khi nghĩ đến bà chỉ thấy buồn.
Hết chiến tranh, thống nhất đất nước, lại chiến tranh biên giới…, cái đất nước này chẳng bao giờ được yên..., nhưng sự tính toán của bà Như là hiệu quả, con bà luôn được ở hậu phương, đánh nhau ở Miền Nam thì nó ở Miền bắc, chiến tranh chống Tàu thì nó lại vào Miền Nam.
Thằng Khánh học lên đại học, lấy một cô học trò ngoan ngoãn hiền lành, đẻ ra hai đứa con rồi nó chuyển ra dân sự làm đến tận phó giám đốc một nhà máy giấy.
 Cũng gian truân lắm nhưng nếu so với thời cuộc, và đặc biệt với các bạn cùng trang nó ở thành cổ Quảng Trị, thì đời nó thế là may mắn và bình lặng...
Gái nhỡ là một con ương bướng. Bà Côi đến khổ với nó, từ việc nhỏ đến việc lớn không bao giờ nó chịu ăn nhời, bà đã từng gọi nó là “Con gái bướng” là “Con đàn ông”. Là con gái nhưng hết phổ thông nó xin học trung cấp xây dựng, đợt đi thực tập, chẳng biết ngông ngênh nghịch ngợm thế nào bị cái cưa cắt vào tay, may mà không thành tật.
Lấy một anh giáo viên thể dục, sau ngày giải phóng anh này được chuyển vào Sài gòn làm “Nòng cốt” cho một trường phổ thông nào đó, thế là nó bỏ việc theo chồng Nam tiến.
Ngày ấy, nạn Mát xa trá hình nhiều quá, thành phố mới điều chỉnh bằng một cái quyết định làm thay đổi vận mệnh cả nhà nó; “Chỉ cán bộ y tế và thể thao được phép kinh doanh dịch vụ xoa nắn”. Người ta thuê cái chức danh của chồng nó, rồi nó tự làm và khá lên nhanh chóng. Em nó mắc cảnh nợ nần, nó mang công nghệ ra đầu tư giúp em nó thoát nợ, thoát nghèo...
Giàu có là một thử thách khó qua nhất của đời người..., nhiều tiền quá, thằng chồng nó hư đốn bồ bịch, bài bạc. “Non sông dễ chuyển, bản tính khó dời” nghèo hay giàu thì Gái bướng vẫn là Gái bướng, chồng phụ bạc, chẳng cần làm gì để níu kéo, nó bỏ quách, mang con về quê. Thế cũng hay! Ba anh em chúng, giờ đã lên ông lên bà vẫn sống với nhau ấm cúng lắm.
Thằng Cường học cùng với Gái bướng, năm lớp bốn, chúng nó học ông Chúng (chú thằng Cường) ở ngoài Đình. Được chú kèm cặp, thằng ranh viết được bài văn mô tả bác nông dân hay lắm, từ đó nó phải làm cán sự, học nhóm cùng Gái bướng và mấy đứa trong ngõ như thằng Quang bẹp, cái Lân Phẩm, Yến Sinh, những năm sơ tán thì thêm con Khả nhà cụ Phó Hải nữa.
Con Lân con Yến thì chẳng có gì để nói, con Khả còn hơn cả gái bướng, nó đánh nhau với những thằng con trái “Gấu” nhất lớp, bọn kia thường thua vì ngoài đấm đá nó còn võ chửi rất ngoa ngoắt. Ngoài phố người ta không chửi như mấy bà nhà quê mất gà mất chó, đại loại như; “Cha tiên sư năm đời mười đời thằng bố đứa nào bắt trộm chó nhà bà nhớ...!” hay; “Con gà nó ở nhà bà, nó là con Công con Phượng, nó về nhà mày nó thành con Cú con Quạ, nó mổ lòi mắt thằng bố con mẹ mày ra nhớ...!”. Không lồng lộn như vậy, nhưng khi con Khả đã chửi thì chỉ còn hai cách, một là chuồn, hai là phải liều mạng mà lao vào đấm đá.
Đấm con gái đã ngượng mà ngộ thua thì còn ngượng nữa rồi nó còn nhiếc móc cho không biết đến bao giờ..., thế nên chẳng đứa nào muốn dây với nó.
= = =
Thằng Quang bẹp thì hâm từ bé, nó ít nói và khi buộc phải nói thì người ta chả hiểu nó nói gì. Không nhớ học hết lớp mấy nó đi trung cấp công an rồi về huyện công tác. Khốn nạn cho đời nó...! Giá như nó học thợ mộc, thợ hàn gì đó thì may ra cũng được yên thân, chẳng hiểu đời, chẳng biết tý gì về luật rừng về cái mặt trái của xã hội mà làm công an thì chỉ tổ vướng chân đồng nghiệp.
Bị người ta dồn ép quá, nó quẫn, mà quẫn thì hỏng việc, càng hỏng việc sức ép càng cao, được vài năm, nó tâm thần thực sự. Người ta cho nó về hưu non, bố mẹ mất sớm, ba chị em nó ở với bà cô. Ông bà nó có ba người con gái cũng lần lượt gọi là Lớn-Nhỡ-Tý. Hai bà lớn đã lấy chồng cùng làng. Bà thứ ba, bà Tý, mắc bệnh ho hen người cứ gày quắt, tong teo, nói chả ra hơi, đêm, bà ho từng tràng rũ rượi, cái bệnh ác nghiệt..., hít vào còn được nhưng thở ra bị các phế quản co thắt cản lại cứ như có người bóp cổ, người bệnh phải cố hết sức cho lồng ngực ép lại, đẩy không khí qua ống hẹp thế nên mới phát ra tiếng rít nghe rợn người. Người bà có khi chả được ba chục cân, chẳng ai dám lấy và cũng chẳng dám lấy ai, thế mà bà vẫn dựng vợ gả chồng cho chúng nó. Thằng Quang bẹp được bà hỏi cho một cô dưới Miêu Nha và từ đó chứng tâm thần của nó chỉ dừng ở mức còn có thể lo được cơm nước cho vợ và đẻ được hai đứa con.
Ngoài học nhóm, chúng nó còn làm báo tường, tập văn nghệ cùng nhau. Con Khả, con Gái Bướng làm đạo diễn, con Lân con Yến, thằng Quang làm khán giả, chúng nó bắt thằng Cường diễn tấu hài, bài “Võ sĩ bọ ngựa”... Từng lời nói, từng động tác, con Bướng bắt phải thế này, phải thế kia, nó đá cho cái chân thằng diễn viên thẳng ra..., bẻ cho mấy ngón tay rũ xuống..., diễn vài lần, con Khả lại cau mày.
-Đéo được...! Đã gọi là bọ ngựa thì cái chân cũng phải loẻo khẻo chứ lị...!
Khốn nạn cho thằng Cường, hết thẳng lại cong..., mà nó còn phải vớt bèo nấu cám lợn rồi cơm nước, nhà cửa. Từ ngày vào lớp bốn, mẹ không đánh nó nữa nhưng nó lại thương mẹ nó bội phần. Nó muốn làm cô Tấm của mẹ, nó muốn khi bà ở ngoài đồng về, mọi việc nhà đã đã đâu vào đấy..., nó sung sướng khi thấy ánh mắt hài lòng của mẹ nhìn nó.
Thế nên con Bướng, con Khả bảo gì nó cũng nghe, không cãi lại, cốt tập cho xong nhưng cái tức cứ dồn lên làm mặt đỏ nhừ..., đến lúc không thể ở thêm, nó ù té chạy.
-Thôi! Tao không tập nữa đâu! Để mai...!
Thằng diễn viên bỏ chạy trước sự ngỡ ngàng của hai đạo diễn cùng đám khán giả. con Khả với theo.

-Ơ...! Địt mẹ thằng này…! Tự ái à...!
(Còn nữa)

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Thực trạng Khoa học Việt Nam...!

Bs. Nguyễn Vinh Dũng. (Dịp 2007-2008)

Nghe nói, hội nghị trung ương đưa vấn đề trí thức, nhân tài, chảy máu chất xám..., ra bàn tôi thấy mừng nhưng chỉ mừng "vừa phải".
Mừng vì như thế tức là chúng ta sẽ quan tâm hơn đến trí thức, đến "Quốc khí". Nhưng thực lòng tôi vẫn thấy lo lo. 
Trước hết tôi khẳng định rằng tôi không nghi ngờ chủ trương, mục đích của Đảng và nhà nước, nhưng cũng cho tôi được thực lòng nói rằng; tôi hơi nghi ngờ tính hiệu quả của các biện pháp sẽ được đưa ra và cũng vì thế tôi càng nghi ngờ nếu ai đó nói rằng: "Quốc khí" phen này có dịp thăng hoa....

Ôi! giá như sự nghi ngờ của tôi là thừa, là...vô duyên thì quí hóa biết bao...!
Người Việt ta vốn thông minh và hiếu học, ngày xưa, không phải chỉ có mình Cao Bá Quát. Ngày nay, gương các bạn trẻ "Lên núi luyện thi ..., vừa phụ nề vừa học " mà đỗ "Thủ khoa, Bảng nhãn" không phải chỉ có một, hai, chẳng qua là báo chí chỉ phát hiện và đưa ra một vài điển hình mà thôi.
Ở đô thị ngày nay, các trường, các thầy cô, các bậc cha mẹ bắt trẻ con học đến mức mới chỉ nghe tôi đã ... "Hoa cả mắt"...!
Truyền thống là thế..., hiếu học là thế..., làm sao có thể thiếu cán bộ khoa học cho được ?
Gần đây tôi không có thời gian, mà cũng chẳng dám để ý xem hiện thời ta có bao nhiêu Giáo sư? Phó giáo sư? Tiến sỹ? phó tiến sỹ? Thạc sỹ? Nhưng chắc là nhiều... "vô kể".
Thế thì... làm sao lại có thể thiếu cán bộ khoa học được ?

Nên chăng hãy thử mạnh dạn, thẳng thắn lần lượt xem lại ta: Đào tạo thế nào ? Sử dụng ra sao? Thực trạng hoạt động khoa học của ta hiện nay thế nào...?
ĐÀO TẠO (Chỉ nói sau đại học)
Không thể nói một cách "Vơ đũa cả nắm" rằng, việc đào tạo sau đại học ở ta đã bị.."Thương mại hóa", nhưng, tôi cho rằng... Hầu như là vậy!
Tôi đến nhà anh bạn đang giữ một ghế "Kha khá" ở ủy ban quận Đ, sau một hồi tâm sự anh ta mở tủ rồi xỉa về phía tôi đến "Mươi, mười năm" cái bằng đỏ chót, toàn là Đại học và Sau đại học rồi kết luận.
-Đấy...! Đủ hết...! Chỉ còn thiếu mỗi cái ... "Bằng lòng!".
Chả là, anh ta đang “Phấn đấu” lấy cái ghế Phó chủ tịch, nhịn đủ đường, nhịn lâu quá rồi mà vẫn chửa được!
Khổ quá ...! Làm sao tôi không biết học lực của bạn mình..., mà nội trong vòng 5 năm, vừa học vừa lo bao nhiêu là "Công to việc nhớn"..., làm sao mà hắn "kiếm" được ngần ấy cái Bằng cơ chứ... ?
Thằng em họ tôi làm ở bộ N, chả thấy thức khuya dậy sớm gì..., người cứ béo hú, tiếng Anh còn kém xa mấy ông Tắc-xi, suốt ngày đủng đỉnh lo bổn phận "Giám đốc", thế mà..., hai năm nó có bằng Thạc sỹ, rồi đúng ba năm sau nó có bằng Tiến sỹ..., toàn loại xuất sắc hẳn hoi..., thế mới tài...!
Thế là biết... ta đào tạo ra sao rồi...!
Tuy nhiên, cũng không ít người học hành, nghiên cứu nghiêm túc, biết tìm tòi từ thực tế để chọn đề tài, để dấn cả cuộc đời mình vào chuyên môn khoa học. Nhưng, phàm đã để tâm trí vào đọc sách, nghiên cứu, thực hành thì lại hay sao nhãng những bổn phận "Tế nhị", hay vấp phải những lỗi vô tình bị qui là..."Coi thường thầy"..., “Ngựa non háu đá”.
Thế nên cái số hiếm hoi này lại hay bị đao búa, đề tài nếu không "Chết yểu" thì quá lắm cũng chỉ được xếp vào loại "Thường thường bậc trung".
Thêm nữa, trong tất cả các "Thầy hướng dẫn", các vị "Hội đồng" chấm luận án của cả nước, bên cạnh những "Cây đại thụ" hết lòng chăm lo cho thế hệ kế tục, cho sự nghiệp khoa học nước nhà, không thiếu những "Cây đa, cây đề" nhờ "Hoàn cảnh lịch sử" hay cũng do "Chạy" mà nên..., bây giờ ngồi đó, hoặc phải ngáng chân bọn trẻ cho chúng... "Hiểu đời", hoặc để phóng túng, ban ơn theo kiểu ..., “Cứ đến Thầy...OK hết”.
Một ông thầy ở QY viện 103 cương quyết không nhận tiền bồi dưỡng đọc lại luận văn rồi mắng trò rằng.
-Tôi không nhận phong bì để cậu thấy rằng, thật sự Luận văn của cậu cần sửa. Cậu làm về vấn đề này, tức là cậu phải hiểu nó hơn chúng tôi, vì vậy phải trình bày làm sao để không chỉ mình tôi mà các thầy trong hội đồng từ không hiểu thành hiểu, từ hiểu ít thành hiểu nhiều..."
Trò xúc động ra về hỏi tôi.
-Được như thầy mình, hỏi có mấy người...?
Đào tạo như thế, làm sao không thiếu cán bộ khoa học cho được...!
SỬ DỤNG
Tôi lại biết một vị Giáo sư, cuối đời mới được "Thăng" lên chức Phó giám đốc, khi đến chúc mừng, ông ấy ghé tai tôi nói "Cánh mình chỉ muốn làm chuyên môn, khoa học thuần túy nhưng..., khổ lắm...! Không dính t‎ý quản lý, không ai cho làm chuyên môn, khoa học mày ạ".
Càng ngẫm càng thấy ông ấy nói phải, ở những cơ sở khoa học thực hành thì "Các đề tài khoa học" phải xuất phát từ công việc hàng ngày, sao cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, rẻ hơn, hiệu quả hơn, an toàn hơn... Người cán bộ khoa học tìm thấy câu hỏi trong công việc rồi tự nghiên cứu sách vở và thực tế để tìm ra cách trả lời..., thế là khoa học..., đấy là khoa học
Nhưng, ở các cơ quan thuộc Nhà nước quản lý, có hay không có thực trạng phụ thuộc hoàn toàn vào...Sếp? Thủ trưởng nào, phong trào ấy, thủ trưởng thích "Trường phái" nào, vấn đề gì, anh em phải làm việc, nghiên cứu theo trường phái ấy, vấn đề ấy, và cũng không bao giờ được phép vượt quá ... thủ trưởng.
Thủ trưởng không thích một trường phái nào, không thích loại đề tài nào thì việc nghiên cứu ở đó coi như... chết!
Người giỏi chuyên môn thường ít nhiều tự phụ, họ tự cho mình cái quyền..., “Không phải nịnh ai”, những dịp như Quốc khánh, dằm tháng bảy, tháng tám..., thậm chí tết tây, tết ta..., họ thường quên việc đến nhà sếp...! Họ không hề biết rằng họ như cái gai trước mặt mà hễ có dịp là sếp ... vứt họ đi, mỗi biện luận “Thuyết phục” của họ đều làm ... “Đau lòng” sếp..., càng khoa học, càng thuyết phục bao nhiêu, sếp càng ghét bấy nhiêu...
Thế nên, "Chất xám" nào trót mê khoa học, xa chính trường, nếu không muốn rơi vào vòng "Bất mãn" thì dẫu không muốn cũng phải tự tìm đường mà tự ..."Chảy máu".
Ở nước ngoài, ở các công ty nước ngoài, họ như cá gặp nước, giới chủ tạo hết điều kiện cho họ nghiên cứu, trả họ thù lao sứng đáng và không bao giờ họ phải xin xỏ ai, điều gì...
Nếu cần tập trung nghiên cứu vấn đề gì, người ta ...”Đặt hàng” chứ không áp đặt kiểu như các ... Sếp nhà mình.
Thế là biết, ta sử dụng cán bộ khoa học như thế nào!

TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
Tuy nhiên "Phong trào nghiên cứu khoa học" thì không bao giờ, không ở đâu là yếu cả.
Hình như..., và tôi vô cùng ngạc nhiên rằng đến tận bây giờ, hàng năm ta vẫn phân bổ chỉ tiêu cho các ngành, các tỉnh..., rồi các tỉnh lại “Chia” cho cơ sở số các đề tài, với các cấp độ; Cơ sở, Tỉnh thành, Bộ ngành, Nhà nước..., có tiền kèm theo..., mà nhiều tiền hẳn hoi... tiền lấy từ thuế, thuế do dân đóng.
Thế là người ta chia nhau, phân công nhau, tìm mọi cách để nặn ra được đề tài, và quan trọng hơn cả “Đề tài khoa học” là kiếm ra được chứng từ để... thanh toán!
Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thì hoàn toàn đúng đắn nhưng...
Trời ơi!... Sao lại làm khoa học theo kiểu ... "Nguyễn Công Hoan" thế !

Ông bạn tôi lâu lâu lại thấy có đề tài cấp thành phố, kinh phí cỡ trên dưới trăm triệu. Chúc mừng, hắn kéo tôi ra chỗ vắng nói nhỏ..."Không có việc làm thì tôi vẽ ra ... kiếm t‎ý, ông nói nhỏ thôi cho tôi nhờ..., khổ lắm...! Tiếng là trăm triệu nhưng tôi chỉ đút túi hơn chục...phải mỗi chỗ một tý họ mới duyệt cho..., ký cho..., chạy chọt đủ nơi ..., từ lúc duyệt đề cương đến khi nghiệm thu ..., từ cơ quan..., đến sở chủ quản..., các sở liên quan ..., rồi thì bên tài chính..., hội đồng... tính tiền công còn rẻ chứ làm gì ..., có lãi, nhục lắm ông ạ ...! Thôi, từ nay tôi cũng ... cạch!

Đào tạo như thế. Sử dụng như thế. Tổ chức nghiên cứu như thế...Làm sao ta không thiếu cán bộ khoa học cho được!

Đảng ta cầu thị, Chính phủ và Nhân dân mong đợi ..., hy vọng lần này, “Trên” sẽ có những quyết sách hiệu quả hơn để cởi trói, động viên, phát huy được nhân tài khắp nơi, để "Quốc khí" chỉ việc "Thăng hoa" chứ không phải lo tự... "Chảy máu" nữa....!!!

ĐI ĐẦU ... Và... ĐỨNG ĐẦU...!

Người đi đầu
Và kẻ đứng đầu
Có khác gì đâu
Thế mà giống-khác
            
Người đi đầu
Đi trong bóng tối
Người đi đầu
Mở đường tìm lối ...!

Người đi đầu
Rắn cắn, gai đâm
Người đi đầu
Ngã xuống
Người đi sau
Lại đi đầu
Những người đi đầu
Người muôn đời sau
Vẫn nhớ...!

Kẻ đứng đầu
Luôn đi sau
Có khi
Đi sau rốt
Có khi
Không dám đi
Nên cả đoàn
Dừng lại..., hoang mang...!

Kẻ đứng đầu
Người muôn đời sau
Nhắc nhở nhau
Nhớ mãi ...!

Trong đêm đen
Người đi đầu
Tìm thấy lối
Đừng mừng vội
Người đứng đầu
Đi đằng sau

Không muỗn rẽ ... !

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

PHẬT TẠI TÂM (Tiếp và hết)

Bích thân mến!
Bây giờ ta trao đổi nốt những vấn đề còn lại
-Phật là gì, rồi thử nhìn xem người ta coi Phật là gì? Người ta đã sử dụng đạp Phật như thế nào...?
-Tại sao nói “PHẬT TẠI TÂM”...?
Bài trước đã giải quyết câu hỏi: Phật là gì...? Phật Tổ là một người, đạo Phật là dăn dạy..., là cách để con người thoát khỏi những ham muốn làm hại chính con người, hướng con người đến thiện.
Tôi không biết rằng, chính những người khai sinh ra đạo Phật hay những tín đồ sau đó, hay những người sử dụng, lợi dụng Đạo Phật đã dần thêu dệt, dựng lên tổ chức xã hội nhà phật với những thứ bậc, chức vị, những phương trời tọa lạc..., tất cả những điều ấy cũng có thể nhắm mục đích thuyết phục và chinh phục tín đồ.
Người dân, vốn có trình độ hiểu biết vũ trụ hạn chế..., niềm tin vào thế lực siêu nhân ở đâu cũng có...
Người dân vốn cực nhọc vất vả lại nghe nói Phật dẫn dắt qua miền khổ ải..., tới miền cực lạc..., lại càng dễ dàng nghe theo...
Không phải ngẫu nhiên mà cơ quan liên Hiệp Quốc lại coi tự do tín ngưỡng là vấn đề quan trọng. Đó là vì những người cầm quyền luôn có đối tác là dân chúng và họ nhanh chóng nhận ra rằng muốn nắm được dân chúng thì phải nắm được niềm tin của họ..., không phải chính quyền nào cũng làm được điều ấy nên chính quyền nói chung, đặc biệt là những chính quyền độc tài, nếu không lợi dụng được thì sẽ rất sợ tín ngưỡng.
Người chưa thực sự “Giác ngộ” sẽ thần thánh hóa Phật, người ta cho rằng Phật là đấng toàn năng, có thể ban phát cho người ta tất cả, từ quốc thái dân an đến... con lô, con đề.
Lịch sử xã hội đã chứng minh: Cứ khi nào nhà cầm quyền suy đồi, tham lam hưởng lạc, không quan tâm đến đời sống dân chúng thì hai thứ sẽ nổi lên đó là giặc giã và mê tín dị đoan. Giặc giã ở đây bao gồm trộm cướp, bè đảng chứ chưa nói đến những thế lực vùng lên hòng thay thế cầm quyền... và ngược lại, khi nào thấy trong xã hội nhiều giặc giã (Băng đảng, nhóm lợi ích, cướp giật, hãm hiếp...), thấy mê tin dị đoan..., ấy là lúc chính quyền mục nát.
Đạo Phật vào Việt Nam sớm hơn các Đạo du nhập khác nên từ lâu đã ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tín ngưỡng dân chúng cả nước.
Trong một bài viết tôi đã phân tích, đã phân biệt ba loại người đến chùa và trong các cảm nhận của bài trước, nhiều người đã nói đến ba loại ấy: Mê tín..., bán tín bán nghi..., và những người hiểu biết không mê tín, cũng có thể hiểu là: Mê muội, bán giác ngộ và giác ngộ..., ở đây, tôi chỉ nói đến những người mê muội, những người đến cửa Phật mà không biết, không hiểu Phật là gì.
Tôi cũng tạm chia họ ra ba dưới loại:
-Những người hiền lành, chăm chỉ làm lụng nhưng cứ bị xã hội phụ bạc hà hiếp, họ vùng vẫy đến đâu cũng không thoát được nghèo hèn, dốt nát... Họ đến cửa phật để cầu xin, để nương tựa và củng cố niềm tin.
-Những kẻ làm những nghề ít đạo đức (Buôn gian bán lận, làm và buôn bán hàng giả, thuốc phiện, cờ bạc, đĩ điếm ...) họ cũng đến cầu xin những thứ họ muốn (đôi người còn chút liêm sỉ thì cũng có thể ... đến để xám hối nhưng vẫn cầu xin cho làm ăn ... phát đạt)
-Những kẻ còn đồi bại hơn cả lưu manh trộm cắp, đó là những người có chức có quyền ra sức hà hiếp dân lành, cướp cơm của dân nghèo, làm băng hoại xã hội. Mức độ giác ngộ của họ quá thấp, ngược hẳn với độ cao của cái ghế họ đang được ngồi... Họ đến cửa phật để xin cho cái ghế..., cái cần câu cơm của họ được vững chãi..., thăng tiến (Và cũng đôi người còn chút liêm sỉ đến để rửa tâm hồn sau những việc làm đồi bại mà chỉ khi có chức quyền mới làm được). Nhóm này rất nguy hiểm vì cả trực tiếp và gián tiếp, họ có ảnh hưởng đến xã hội.
Nhóm này (Bao gồm cả ba dưới nhóm) mang đến và tạo ra những xô bồ nơi cửa Phật, họ khấn vái theo kiểu ... “Lấy được”, bạ đâu cũng khấn, cũng xin...
Từ khi có Đạo Phật, xã hội ta đã qua nhiều lần thăng trầm, tức là đã nhiều lần giặc giã, trộm cướp, mê tín dị đoan nổi lên...
Và cũng như bây giờ, những người có kiến thức, những người thực sự giác ngộ (thường ít vai trò trong xã hội) mới khuyên bảo những người có thể khuyên bảo được, rằng:
-Phật trong tâm ta ấy...!
Nghe theo lời Phật thì sống hướng thiện, tránh tà chứ đâu phải cứ lên chùa cúng lễ mới là ...
Cái nghĩa “Tu tại gia” cũng vậy..., mình hướng thiện, hướng vợ con, gia đình mình sống thiện... làm cho tâm Phật có trong mỗi người chứ đâu phải lập ban thờ Phật rồi tụng kinh gõ mõ mới là “Tu tại gia” đâu.
Nếu nói cho...”Đã” thì còn nhiều điều muốn lắm nhưng vấn đề Bích đặt ra “PHẬT TẠI TÂM”, mình chỉ trao đổi ngần ấy!
Chúc trong TÂM của Bích luôn có PHẬT...!

Nam mô a di đà phật...!

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

ĐẤT NƯỚC NAM, RỒI VẪN CỦA DÂN NAM...!

“Non sông ơi!
Hồn Chí Linh, Sông Đằng
Vạn Kiếp hay Hạ Hồi
Những dòng lịch lử đâu rồi...?”
Đất nước tôi...
Không chỉ có rừng vàng, biển bạc,
Nước phù xa, bồi đắp đất phù xa
Quê hương tôi                
Cánh đồng xanh ...
Lũy tre xanh ...
Ôm ấp chở che những mái nhà tranh
Những làng xóm hiền lành...
Cần cù lắm, cuốc cày, chài lưới
Êm ả cánh cò, nhẹ vỗ lời ru
Hồn thơ Tố Như thấm vào từng bàn tay cày cuốc
Duyên dáng Quan họ trao duyên
Diết da, ân tình ví dặm
Hò dô kéo lưới sứ Thanh
Người dân quê tôi, người dân quê anh
Cùng quen thuộc lời ru con nam Bộ
Chiêng cồng tây nguyên, tính then Pác Bó
Những điệu dân ca đi đến đâu cũng có

Đất nước này, cho mình sống, mình yêu
Trí trẻ thơ bay theo tiếng sáo diều
Mắt cha đục, trên cánh đồng lúa chín
Con trai, con gái trao duyên
Rồi cưới nhau về, sinh con nuôi cái
Cùng nhau chăm sóc mẹ già
Khi giặc đến nhà
Những hiền lành, cần cù, dịu dàng đã thành thép, thành gang         
Tự hào lắm bà Trưng bà Triệu
Không chịu sống hèn, rửa nhục non sông
Mưu trí lắm, cọc Bạch đằng, Ngô Quền phá tan giặc cướp
Linh thiêng thay, hồn thơ Việt, Lý Thường Kiệt dạy lũ hung hăng
Rằng:
Trời đất nước Nam Vua Nam ở
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc-Nam cũng khác
Hỡi lũ giặc tham lam, nhớn nhác
Trước hay sau cũng thất bại tan tành...!
Dũng mãnh thay, võ ngựa Quang Trung quân thù bạt vía
Tự hào lắm, nhân nghĩa Ức Trai rạng danh đất nước
Giặc đã
Ra đến biển vẫn hồn bay phách lạc
Về đến nước còn tim đập, chân run
Lại lấy hòa hiếu làm hơn
Để lo dân nghỉ sức
Đất nước tôi có toàn dân chống Pháp
“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan
Ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ...”
Thách người Tây nhổ hết cỏ nước Nam
Có Hoàng Diệu thà bất trung với Vua không làm dân mất nước
Có Cần Vương, cả nước diệt thù...
Nhưng:
Nghèo nàn lạc hậu
Nên giáo mác chẳng thắng được đại bác xe tăng
Ngậm đắng nuốt cay
Một trăm năm vẫn nung ý chí từng ngày
Ước vọng đổi thay
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, duy Tân phục quốc
Nuôi kế lâu dài, muốn đuổi Tây không thể dốt hơn Tây...
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp
Cướp thời cơ, toàn dân một ý, quyết đứng lên đất nước lại về ta
Ta viết hùng ca Việt Nam, dân chủ, cộng hòa
Đổi xương máu lấy Điện Biên..., thống nhất
Bạn thù trốn lẫn trong nhau
Có Lê Duẩn người nông dân bất khuất
Dám ngẩng cao đầu khẳng khái với Bắc phương
Trong mò mẫm giữa ĐÍCH với ĐƯỜNG
Ta lại có Tạ Đình Đề, Kim Ngọc
Trong nhuốc nhơ danh vọng
Hèn hạ bạc tiền
Vẫn có Sáu Dân băn khoăn tìm lối
Trần Xuân Bách, lựa chọn, đúng sai
Nguyễn Bá Thanh lựa gươm cương quyết
Non sông ơi!
Hỡi những người tâm huyết
Chớ vội bi quan ...
Đất nước Nam

Rồi vẫn của Dân Nam...!

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

PHẬT TẠI TÂM (Tiếp)

Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất-đạt-đa (Sidharta) ở Ấn Độ, sinh năm 624 trước Công nguyên. Bất bình với đạo Bà-la-môn phân chia đẳng cấp trong xã hội và kỳ thị màu da, gây ra bao nỗi đau khổ cho muôn dân, nên Tất-đạt-đa đã sáng lập ra một tôn giáo mới. Từ đó, người ta gọi Ngài là Thích Ca Mầu Ni (Sakia Muni), tức là Phật Tổ. Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất-đạt-đa (Sidharta) ở Ấn Độ, sinh năm 624 trước Công nguyên. Bất bình với đạo Bà-la-môn phân chia đẳng cấp trong xã hội và kỳ thị màu da, gây ra bao nỗi đau khổ cho muôn dân, nên Tất-đạt-đa đã sáng lập ra một tôn giáo mới. Từ đó, người ta gọi Ngài là Thích Ca Mầu Ni (Sakia Muni), tức là Phật Tổ.
=-=-=-=
Cảm ơn Bích!                          
Như vậy, không cần phải kể thêm những hiểu biết về phật tổ và đạo Phật nữa nhé, ta thống nhất mấy điều.
-Phật tổ cũng là một con người như chúng ta, khác là Ngài ngộ ra được những ham muốn của loài người đã làm khổ loài người.
-Ngài đã nghĩ ra những điều răn dạy loài người hướng thiện gọi là Đạo Phật (Anh em mình không thể và cũng không cần nói chi tiết)
Những điều truyền lại rằng Phật tổ đã tu như thế nào, đắc đạo ra sao... không có cơ sở và anh không tin.
Những lý thuyết về mấy phương Phật ở trên trời anh cũng ... không tin, gốc của người Việt ở Bắc bộ là đạo Mẫu, cũng như Đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Khổng... và những sản phẩm trí tuệ con người khác đều do con người nghĩ ra để phục vụ mục đích của con người thôi... không có những Phật tổ, Phật Bà đi mây về gió đâu, Cõi Niết bàn cũng chỉ thấy trong trí tưởng tượng của con người thôi.
Thứ tư tưởng nào, muốn truyền bá rộng rãi, muốn người ta dễ tin và dễ theo, dễ trung thành đều pha chút huyền bí vào mà thôi.
Vì là sản phẩm của con người mà một người không thể sống mãi để dẫn dắt nên cũng giống như Quốc tế cộng sản, sau khi ông Mác hình thành cũng có trường phái này trường phái khác... và khi lan đến Đông Dương cũng thay đổi, cũng chịu ảnh hưởng của cá nhân mà Hồ Chí Minh thống thất được..., Đạo phật cũng phân hóa thành những môn phái khác nhau (Ta cũng không chi tiết những Đại, Tiểu thừa làm gì).
Nhưng, như Bích đã biết, Đạo Phật từ Ấn Độ, Nê Pan vào Việt Nam theo hai đường, qua Trung Quốc để vào Miền Bắc, qua những Miến Điện, Thái Lan, Căm Pu Chia để vào Miền Nam nên từ nội dung đến hình thức đạo Phật ở hai miền ít nhiều khác nhau (Cũng không bàn cụ thể làm gì)
Nhân chuyện truyền đạo, nói một tý về “Tây du ký”
Người Trung Quốc rất ... “Thâm”, câu chuyện (Giờ có cả bộ phim) khi theo dõi, từ người già đến trẻ con đều ... khoái, khoái từ đầu đến cuối..., thế nên không cần suy nghĩ mệt đầu mà tư tưởng, ý đồ người viết tự ăn vào đầu người đọc, người xem..
Trong đó có đại diện của ác, thiện, chính tà, các tầng lớp các giai cấp trong xã hội cùng những bản chất... Cuối cùng, tác giả rất khôn khéo đưa câu chuyện “Cái bát tộ” biến thành “Đồ hối lộ” ở cửa Phật để bày tỏ quan điểm của mình một cách kín đáo, hấp dẫn nhưng cũng rất rõ ràng.
Nhân vật chính, Tôn Ngộ Không chính là đại diện của người dân (Ngày ấy, dân cũng có nghĩa là nông dân)... Dân làm nên mọi điều, không có dân thì không ai được việc gì nhưng người dân luôn bị kìm kẹp, ngược đãi.. nếu trong hoàn cảnh nào đó mà vùng vậy thì quá lắm cũng chỉ được làm cái chức... “Bật mã ôn” mà thôi...

Cứ như thế ta suy ra những nhân vật đại diện cho các giai cấp, thói, tính khác của xã hội loài người...