Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

Nghe lâu đã ngấy, bỏ ngay được rồi...!

Họp chi bộ thông qua báo cáo cuối nhiệm kỳ và dự thảo hoạt động nhiệm kỳ mới, nghe phát biểu của đại diện đảng ủy...
Đọc vài câu anh em đã buồn ngủ, người đọc báo, người vờ ghi chép nhưng thực ra là ..., vẽ bậy, kẻ rút điện thoại ra bấm....
Xong....! Thảo luận...!
-Nhất trí đấy...!
-Đầy đủ quá rồi...! Biểu quyết đi...!
Đã thế, thằng "Đại diện cấp trên" lại cứ hô hào anh em đóng góp, rồi nó gợi ý những vấn đề ... có lợi cho nó!
Rồi...! Tôi phát biểu.
-Trước hết tôi cũng như các đồng chí đều thấy rằng, bản báo cáo này, trên, dưới, trong, ngoài, chính trị, chuyên môn, kinh tế đã ... "Quá đầy đủ". Tuy nhiên, tôi lại thấy nó đầy đủ đến mức nghe cứ ... Quen quen...! Văn bản này là quan trong và chưa phổ biến nhưng tôi đảm bảo với các đồng chí, tôi đã nghe ở đâu đó rồi....!
Phòng họp ngơ ngác. Tôi tiếp.
-Ý tôi muốn nói.... Nếu cho tôi mượn bản báo cáo này, đem đến bất kỳ một cơ quan nhà nước nào khác, xửa đổi vài cái tên, ngày tháng rồi đọc ở đại hội của người ta.... Tôi đảm bảo 100% rằng sẽ được vỗ tay nhiệt liệt... Nói như thế để lãnh đạo yên tâm rằng bản báo cáo của các đồng chí đã hay, đã đầy đủ đến mức nào..... Anh em trong chi bộ còn góp ý vào đâu nữa...? Để làm gì nữa?
Vỗ tay ào ào...! Giải tán....!
Về có thơ rằng:

Văn bản tổng kết nơi nào
Diễn văn sơ kết phong trào đã quen

Rằng:
Được chỉ đạo sát sao..., Đảng ủy
Được sớm hôm chăm sóc..., Chính quyền
Giúp đỡ..., là Đoàn thanh niên
Là ...,hội Phụ nữ, là..., bên láng giêng....

Nên mặc dù:
Khó khăn vì vốn không nhiều
Trình độ hạn chế, mọi điều vân vân....

Chúng tôi vẫn:
Đoàn kết tốt, dưới trên một ý
Họp phát huy ý chí anh em
Gương cần mẫn anh A chị Z
Sáng kiến hay chị X anh Y

Thế nên:
Thành tích gồm những gì gì..
Đôi điều nhược điểm mọi khi lắp vào
Thế là tổng kết phong trào
Ta thắng lợi lớn...ào, ào ..vỗ tay.

Xin thưa :
Diễn văn theo kiểu thế này
Nghe lâu đã chán bỏ ngay được rồi./.

Thơ...!

Tặng những mối tình không đến hôn nhân

(Mượn ý "Thơ tình cuối mùa thu" Xuân Quỳnh)

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Như là cây không trái
Thắm đậm mãi với đời...

Kìa bao người yêu mới
Đi qua vùng heo may
Sẽ chẳng biết chẳng hay
Yêu là gì anh nhỉ...

Tình ta như dòng sông
Đã quen rồi thác lũ
Ước vọng bao giờ đủ
Bởi khát mãi tình ta...

Tình ta như hàng cây
Đã quen rồi bão tố
Chẳng thể ai quật nhổ
Rễ ăn tận đáy lòng...


Tình ta là hư không
Nên trải dài rộng mãi
Nên triền đê khúc bãi
Vẫn đọng mãi tình ta...!

Nhớ em lắm Huế ơi...!



Ba năm ở Huế, buồn nhiều vui ít. 
Một lần, Thằng Thơ (tiếp phẩm) cho đi chợ. Ngày ấy tôi là quản lý, tức là xếp của nó, tôi bảo nó.
-Mỗi lần đi chợ, mày được tiêu một số tiền tương đương với một bát bún (thế là mạnh dạn rồi) nhưng nếu tao thấy mày khuất tất gì nữa thì đừng có trách...!
Đến chợ. ăn bún xong, nó gọi cho tôi ly Cafe rồi cùng lái xe đi lấy cá. 
Mưa không lớn nhưng tầm tã, dai dẳng, tù túng.
Những người Huế gày guộc trong mảnh nilon, lặng lẽ đi..., rì rầm nói.... Đằng sau cái mành thưa, mưa phủ trắng mặt hồ.
Ân hận vì đã nghe nó rủ rê, tôi ngồi nhìn vô hồn xuống mặt hồ, những con cá rô búng tanh tách vào những cọng rau muống...
Ngày ra quân, đang xếp hàng mua vé thì đổi tiền, thế là thành "khách vãng lai" bất đắc dĩ của Huế 4 ngày.... Đêm, leo lên cột cờ đốt thời gian, mới chợt nhận ra Huế, Sông Hương, núi Ngự... Đẹp quá. Ở 4 năm nhưng nếu không có cái đêm ấy thì Huế trong tôi chỉ là nghèo và xơ xác.
Hơn 4h sáng, tau qua cầu Bạch hổ, cũng rầm rầm như qua cầu Long Biên vậy..., lặng ngắm, gặm nhấm cuộc chia tay không nước mắt, không một bóng người, chỉ có màn đêm.
Chợt nhìn xuống sông, đúng cái vệt sáng phản chiếu ánh trăng, một con thuyền nhỏ tý bồng bệnh trôi.... Một tiếng gà lẻ loi. Bỗng rạo rực thương mến,
Huế đã tiễn mình như thế.
3 th sau khi về Hà Nội. Nhớ quá, viết bài này

Anh nhớ em, Huế ơi!
Hạt mưa bữa mô rơi
Tí tách ngoài hiên quán
cho hồn anh chơi vơi....

Mưa giăng giăng mặt hồ
Tách tách, con cá rô
Đớp hoài bông sen rủ
Buồn chan đầy Cố đô

Cầu Bạch Hổ anh qua
Gần hay xa tiếng gà
Thuyền ai bơi trong bạc
Trăng rớt xuống xa xa....

Hôm nay ở Hà Nội
Nhớ em lắm Huế ơi
Mở giấy ra viết vội
Gửi em, Huế, Huế ơi...!

Thằng Cường-Thi vào tám

Gái Tý là em út, ngày bé người nó cũng nhỏ thó, chân tay cứ thẳng tuột như cái ống giang, khuôn mặt trái xoan, nước da trắng và cái chính là nó ngoan ngoãn nhẹ nhàng chứ không lấc cấc, ngỗ ngược, ương bướng như con chị.
Nó hát hay và hay hát, vào một hôm trời mưa rả rích, người lớn chừng đi vắng cả, Gái Tý ngồi bên thềm nhà bi bô hát, tiếng hát của con em hàng xóm cứ lọt vào tai thằng Cường: “Bí bo, bí bo…, xe đi đâu đấy…, xe vào nhà máy…, khói bụi tung bay! Bí bo, bí bo…”.
Bên này, thằng Cường bỏ bút nhìn xa xăm qua cái trổ của lũy tre, cánh đồng xa tít tắp, mưa như một tấm màn bàng bạc ngăn tầm mắt, nhưng nó cứ nhìn, cứ nhìn xa, xa mãi…, có cái gì đang chờ nó ở xa tít bên kia màn mưa..., bên kia, tiếng hát của con em vẫn vô tư vọng sang “Bí bo, bí bo… xe đi đâu đấy...” Thằng Cường thấy một cảm giác rất lạ len lỏi trong tâm trí mà mãi mãi sau này nó không sao có thể quên được…
Nhưng từ khi lớn lên, từ khi nước da trắng xanh của Gái Tý đổi sang trắng hồng thì nó không hát hồn nhiên như trước nữa, mỗi khi tình cờ gặp nhau, nó không đon đả, không vô tư nhí nhảnh như trước nữa..., liếc nhìn thằng Cường qua vành nón, cười một cái vừa như tinh nghịch vừa đầy ẩn ý rồi..., mặt nó ửng đỏ, cái đầu cúi nghiêng xuống rảo bước.
Khốn nạn...! Thằng Cường khi thì mặc quần đùi đi gánh nước, lúc thì lấm lem bùn đất ở ngoài đồng về..., những cái nhìn của Gái Tý khiến nó ngẩn ngơ. Thực lòng thì nó để ý đến con bé từ lâu lắm rồi, từ cái hôm mưa dầm ấy..., tất nhiên, lúc trẻ con thì chỉ là một thứ tình cảm hơi khang khác.
Thằng Cường đang chuẩn bị thi vào tám thì bố nó về, độ ấy, mẹ nó yếu lắm, những xung đột trong tình cảm, sinh lý, kiệt sức để nuôi năm đứa con ăn học, những khắc khoải cho thằng lớn ở chiến trường, những toan lo cho con Thuấn vào trung cấp, thằng Khang vào công nhân quốc phòng đã vắt kiệt sức của bà.
Thằng Cường đang băn khoăn giữa học nữa hay ở nhà giúp mẹ..., ở nông thôn, bỏ học là bình thường nhưng hình như với nhà nó thì không thế..., tối hôm ấy nó nghe lỏm được tiếng bố nói với mẹ trong buồng.
-Nếu đỗ..., cho nó học..., nếu trượt thì xuống Phòng..., theo ông Tý học thợ mộc.
Thằng Cường lặng im, vừa mừng vừa tủi, mừng vì đang băn khoăn học nữa hay thôi,  lời của bố như mở cửa cho nó, mừng vì chắc rằng làm thợ mộc sẽ giúp được mẹ nhiều hơn.
Nó tủi một cách mơ hồ rằng, thế là con đường học hành của nó hết, khiến thức của nó sẽ hạn hẹp..., rồi nó sẽ không bằng chúng bằng bạn...
Nghĩ vậy, nhưng khi ngồi vào bàn nó vẫn học, hình như tư tưởng thoải mái lại khiến nó học tốt hơn hay sao ấy.
 Ngày đi thi, mẹ mua cho ổ bánh mì (với chúng nó, bánh mì là sang lắm rồi), dắt cái xe đạp Liên xô con ra ngõ, nó mỉm cười, chưa bao giờ nó đi thi thế này…, nó đi thi mà không muốn đỗ...
 Gần đến phố Nhổn, đường vắng tanh, thằng ranh dựng cái xe vào gốc cây sà cừ, trèo lên, đút ổ bánh vào cái hốc cây.
Phòng thi ở xã Minh Khai, cách đó chừng 2km, trưa ấy nó quay lại cái cây, nằm vắt qua cái chạc mà lơ mơ ngủ..., nó chỉ lơ mơ, phần vì phải coi chừng cái xe dưới gốc, phần vì trong đầu nó cứ hiện lên những viễn cảnh thợ mộc..., nó sẽ làm những độc tác khiến người ta phải trầm trồ, nó sẽ không nói giá nhưng người ta sẽ trả rất cao..., nó sẽ mua cho mẹ quần áo..., thuốc bổ..., và..., cả cua bể nữa, mua thật nhiều vào..., để mẹ nó không phải nhường cho ai.
Nó nhớ, có lần bố nó về mang theo ba con cua bể to bằng bàn tay người lớn. Mẹ nó cởi trói cho bọn cua, những sợi dây bện to như dây thừng đại quấn quanh mai, chân, càng..., khiến những con cua hung hăng chỉ còn biết dương hai mắt mà cầu cứu. Mẹ đuổi hai anh em nó không cho đứng gần, sợ cua cắp. Luộc cua xong, chúng nó được gặm, mút mấy cái chân..., còn thì mẹ nó bóc thịt nấu miến, gói nem..., những cái chân cua bể sao mà ngọt, mà đậm, mà thơm, mà bùi đến thế..., chúng nó ao ước giá gì được chén cái càng kia chắc phải ngon bội phần...
Đến bữa, mẹ nó gắp thức ăn cho mấy bố con, còn mình, bà cứ vờ loay hoay hết bóc thêm nhánh tỏi lại xuống bếp làm cái gì đó... Thằng Cường buồn, nó buồn vì ăn mấy cái món này cũng ngon nhưng không bằng trí tưởng tượng của nó nếu cứ để nguyên con cua mà chén, nó buồn vì nó biết..., mẹ nó cứ nhường bố con nó.
Miến và nem ngọt thế mà cổ nó đắng, nó liếc nhìn trộm mẹ, cái áo nâu già bạc hai vai và nơi hai khuỷu tay mọi ngày, hôm nay được thay bằng cái áo cánh trắng, nom mẹ nó tươi hẳn lên, hai má không hiểu vì gần lửa khi làm cơm hay gì nữa mà cứ ửng hồng..., lâu lắm bố nó mới về…, nhưng mẹ nó không chịu ăn, ứ cổ không nuốt được, nó chan canh, gắp vội miếng cà lùa ào hết bát cơm rồi xin phép đứng dậy đi ra vườn…
Ánh nắng chếch khỏi vòm lá rọi vào mặt giúp thằng Cường tỉnh cơn mộng mị, thằng ranh tụt xuống đạp xe vào thi buổi chiều.
= = =
Đêm trước ngày xem kết quả, mẹ thằng Cường đi dân công vắng, ba anh em nó ngủ trên cái phản lim kê ở gian giữa, liền với cái tủ thờ. Cái tủ thờ của ông nội chúng để lại có mặt tiền như một bức tranh trạm khắc những con và cây giống. Nghe nói, ngày xưa, khi ông nó chưa bị cách mạng giết, nhà nó lúc nào cũng có một người thợ mộc tài hoa, ngày nào cũng có tiếng lách cách của người thợ trạm trổ những tủ, cánh cửa, hoành phi, câu đối theo ý của ông nó.
Theo lệ nhà nó, thằng Khánh lớn nhất nằm ngoài, nó bé hơn nằm trong, thằng Hùng bé nhất nằm giữa.
Đêm ấy nó nằm mơ, cảnh thành phố chiến tranh, những người mặc kiểu áo gì như áo tơi, lầm lũi khênh những cái quan tài đỏ chói gửi từ tiền phương gửi về xếp thành đống…, mà sao họ lại xếp những quan tài ấy vào tủ thờ nhà nó thế này..., mở cửa tủ, những cái đầu quan tài đỏ chói chồng lên nhau...
Sợ quá, nó bàng hoàng sờ qua màn, những hoa văn của cái tủ hiện trên tay nó... Mơ hay tỉnh đây...? Thật hay mơ đây...? Nếu thật thì đằng sau bức tủ này lại là những cái áo quan ư...? Không phải...! Mơ rồi...!
Nhưng nó vẫn sợ, mồ hôi toát ra lạnh ớn cả sống lưng, đẩy thằng em đang ngủ như chết vào trong, nó rúc vào giữa ôm chặt lấy thằng anh cũng đang ngủ như chết. Thế rồi nó ngủ, và nó lại mơ như cũ..., lần này những cái quan tài đỏ xếp đầy nhà nó... Lập cập tỉnh dậy, khua tay tìm anh nó sờ phải mấy cái bàn chân.., giật mình ngã uỵch xuống đất...., hóa ra trong cơn hoảng loạn nó đã tụt xuống cuối giường từ bao giờ.
Sáng hôm sau, trước khi đi xem kết quả, nó kể lại và anh nó bảo.
-Mê thế thì mày trượt rồi...!
Thằng Cường thích lắm, rủ thằng Xuyên Kiều, băng qua đồng Kiều Mai, lượn qua đầu xóm Đanh, đến Rặng nhãn, còn ngót cây số nữa, hai thằng ngồi nghỉ trên thành cống bắc qua con mương.
Sau đêm mưa nước đục đỏ chảy cuồn cuộn, lác đác những người kéo vó, thi thoảng những tiếng trẻ con reo hò khoái chí khi bố chúng nó kéo được một con chép to bằng bàn tay.
Từng tốp thí sinh túm tụm kéo nhau qua, kẻ hớn hở cười cười nói nói, đứa lầm lì cúi mặt hai mắt đỏ hoe... Thằng Cường bắt đầu thấy buồn, nó thuộc về những kẻ lầm lì kia, vậy thì nó đến đây để làm gì nhỉ…, thằng Xuyên đang ba hoa.
-Mày biết không, Kiều mai thả cá ngoài đồng, mưa to ngập bờ, cá chép ngược lên đây, cho nên bọn này mới…
Đang hăng hái thể hiện cái kiến thức “Chăn trâu chăn bò”, nó vỗ vai làm thằng bạn giật mình, thằng Cường đang nhìn xa xăm vào dòng nước, những con nhện nước cuống quýt đùa giỡn, chúng trôi theo dòng nước chảy xiết rồi lại cuống cuồng chạy ngược lên..., bất giác thằng Cường thấy nó rồi cũng như những con nhện kia, sẽ chỉ luẩn quẩn vật lộn với đồng ruộng..., vừa sáng nay nó còn hớn hở trước lời phán của anh nó, thế mà bây giờ, khi sắp phải đối mặt với kết quả thi trượt nó không thấy phấn trấn nữa.
-Sao mày buồn thế...!
-Tao trượt rồi...! Anh tao bảo thế...!
Hai thằng lặng yên nhìn xuống mương, nước đục ngầu chảy xiết qua miệng cống.
-Thu...!
Tiếng thằng Xuyên làm thằng Cường giật mình qua cơn mộng mị. Thằng Thu Luyến tươi cười hớn hở giữa một đám lạ hoắc từ phía trường đi ra.
-Chúng mày về đi...! Thằng Xuyên đỗ...! Thằng Cường … trượt!
Sự thật đến sớm hơn dự kiến, bỗng chốc hai thằng tách về hai thái cực, thằng Cường cười gượng gạo, vừa ngồi xuống thành cống vừa bảo thằng Xuyên.
-Mày có vào nữa không...? Đỗ thì vào mà xem đi...! Tao ngồi đây chờ…!
Thằng kia phấn chấn hẳn lên, nó vui là phải, niềm vui vì đỗ như được pha thêm chút tự hào vì thằng bạn đi cùng nó, vốn vẫn học giỏi hơn nó lại..., trượt, phen này thì đổi ngôi nhé, chẳng phải nó thích thế, tự nhiên thôi, thằng Xuyên kéo tay động viên bạn.
-Thôi mày đừng buồn...! Ngồi đây làm gì…, vào chia vui với tao.
Thằng Cường miễn cưỡng đi theo, những cảm giác lẫn lộn trong nó..., buồn..., ngượng..., thợ mộc..., giúp mẹ...
Trường cấp ba Trần Phú nằm ở rìa làng Đức Diễn, những lán học bằng tre nứa nằm ngay sau lũy tre làng đang bị phá ngổn ngang. Tuyển sinh là công việc cuối cùng, sang năm người ta sẽ chuyển ra trường mới ngoài ấp Ba Trứ. Một cái bảng to trưng ngay cửa ban giám hiệu, trên đấy người ta dán những tờ giấy khổ A4 đánh máy tên họ những người trúng tuyển theo vần A, B, C...
 Hai thằng bấm chân vượt qua khoảng sân lồi lõm trơn tuột. Muộn, đa số sỹ tử đã ra về hay còn rải rác quanh những bụi tre bàn tán chia sẻ. Vùng đất trước cái bảng nhầy nhụa sau khi chịu hàng nghìn bàn chân dẫm đạp từ sáng đến giờ. Chỉ còn chưa đến chục cái mông chen chúc, nói thế vì chẳng thấy cái mặt nào, chúng đã bị hút dán vào cái bảng kia rồi, thằng Cường hất tay bảo thằng Xuyên.
-Vào...! Xem đi...!
Đoạn nó bất giác nhìn lên góc trên bên trái cái bảng, nơi không bị những cái đầu che khuất, nơi nếu không bị trượt thì tên nó sẽ ở đấy, chỗ vần C nơi đang lộ ra những dòng chữ xanh mờ... Ơ...! Cái gì kia…! Nguyễn Vinh Cường! Ơ…! Thế là thế nào nhỉ…? Nó đỗ à...!
-Thấy chưa Xuyên...?
-Chưa…! Đang tìm…!
Thằng kia hết chen lấn những đứa khác lại bị những đứa khác chen lấn, nó hết bị bật sang trái lại tòi sang phải. Sau đêm mưa trời oi quá, lưng nó, mặt nó ướt đẫm mồ hôi, bất lực nó quay ra cầu cứu thằng bạn.
-Mày vào tìm hộ tao với.
-Mày vần Ích xì phải tìm góc dưới kia kìa.
Thằng Xuyên lại chổng mông chen chúc một hồi, quay ra, mặt nó tái nhợt.
-Tao tìm hết rồi...! Đéo thấy mày ạ...! Sao thế nhỉ…!
Rồi như chợt nhận ra điều gì, nó buông một câu chửi.
- Địt mẹ thằng Thu luyến...!
Không muốn bạn buồn hơn, thằng Cường kéo tay nó.

-Thôi! Đi về…! Tao với mày cùng trượt.

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

LỜI NGUYỀN...!


Bà Cọc bị quy địa chủ..., cái tin ấy chẳng có gì lạ với dân làng Thị Cấm nhưng lại là sét đánh ngang tai bà Cọc.
Không lạ là vì ngôi nhà..., cả xóm Dưới chỉ có mấy nóc nhà ngói, nhà bà tuy nhỏ nhất nhưng kiến trúc lại nửa tây nửa ta..., dính tý tây là chết rồi..., cãi sao được!
Lạ là vì bố chồng bà chết, chồng bà bị tai nạng rồi cũng chết, họ để lại cho bà mỗi ngôi nhà ấy và hơn mẫu ruộng, bà phải gồng hết mình lên để nuôi mẹ chồng, năm đứa con nhỏ..., ác nghiệt hơn, bà phải thay bố chồng, thay chồng góp tay vào nhưng công việc làng xã, họ hàng... Chết nữa là hình như bà lo thay nhưng lại lo tốt hơn họ, những người chức sắc trong làng, trong họ, bà con hàng xóm kính nể yêu quý bà..., trong đó, nhiều người trong cánh bần cố nông coi bà như cha mẹ...
Nhà bà còn chửa đủ ăn, việc tuy nhiều nhưng cũng chỉ đủ cho bà và hai đứa con lớn..., ăn còn phải độn ngô khoa sắn, mặc còn phải rách..., lấy đâu ra mà thuê..., nhưng họ kéo đến xin việc, nhìn những tấm thân sơ xác, những vẻ mật thất thần vì đói, nghe những lời kỳ kèo thiểu não rằng mẹ già con nhỏ của họ đang há miệng chờ chết ở nhà... bà không dằn lòng được ...!
Thế là thành bà chủ bất đắc dĩ, mẹ con bà nhè miếng cơm độn khoai cho họ, xúc lưng bơ gạo cho họ mang về nấu cháo, rồi cùng nhau ra đồng ...
Cứ thế, bà như lãnh tụ của đám dân nghèo, họ yêu quý bà, nể phục bà, khiếp sợ bà, đội ơn bà...
Thế rồi bà Cọc bị đấu tố, hình như người ta cố tình đem những tên địa chủ ra đấu ở chính những nơi họ có tài sản to nhất, nhiều ruộng thì bị đấu ngoài đồng, ngôi nhà bà Cọc có vẻ lớn hơn, quý hơn mẫu ruộng nên bà bị đấu tố ngoài sân.
Cũng như tất cả các cuộc đấu tố khác, tuy không bị trói nhưng người ta bắt bà quỳ xuống nền gạch, bà không quỳ nhưng mấy đứa du kích cứ đạp vào khoeo cho đến khi bà không thể đứng được nữa.
Những người tố, những chuyện để tố cũng vậy, chỉ hôm ấy, lúc ấy nó mới ghê gớm, mới là tội ác tày trời chứ trước đó..., mười người  thì cả mười bảo là công, là tốt hay chí ít cũng là ... chẳng có gì đáng nói.
-Cả Cọc...! Mày có biết tao là ai không...! Hôm tao gặp mày gánh lúa ngoài đồng về, tao chào mày mà mày không chào lại..., mày sợ tao xin lúa của mày.... mày biết chưa...!
Có người vừa tố vừa khóc.
-Hôm tao sang xin mày đi cấy..., mày cho tao nửa bơ gạo về nấu cháo cho mẹ tao ăn..., Mày cho tao bát cơm toàn khoai là khoai mà mày đang ăn dở..., mày biết tội mày chưa...! Hả...! Ối bà cả Cọc ôi..., là bà cả Cọc ôi....!
Người tố quỳ xuống, ôm lấy kẻ bị tố mà chu chéo...
-Ối bà Cọc ôi..., là bà Cọc ôi...! Con thương bà quá bà Cọc ôi....!
Bọn đội kê cái ống bầu lên miệng bắt nhịp
-Đả đảo địa chủ ngoan cố...!
Đám đông nhao nhao hưởng ứng
-Đả đảo...! Đả đảo...!
Người tố bị lôi ra trói vào gốc sung tra khảo nhưng cô ta cãi rằng cô ta có tố, có sưng bà và gọi địa chủ là con... đã làm đúng như lời Đội dạy..., chỉ đến khi ức quá mới khóc... thế là du kích phải tha...!
Đến khi người chủ tọa phiên tòa tuyên bố tịch thu toàn bộ nhà cửa tài sản để chia cho dân nghèo thì bà Cọc đứng bật dậy, quay vào nhà, bà chắp tay khấn lầm rầm mấy câu rồi thò tay vào ngách ban thờ rút phắt con dao dựa..., mắt bà long lên sòng sọc..., bọn đội, bọn du kích bạt vía chạy rạt ra mé vườn, có tiếng lên đạn xoành xoạch.
Bà Cọc không ra sân..., răng bà cắn vào môi mật máu, đoạn bà vung dao chép mạnh cây cột..., lửa bắn tóe..., một miếng lim bật ra, con dao tuột khỏi tay bà văng vào gầm tủ.
-Bà truyền đời cho thằng nào, con nào vác mặt đến đây sẽ chết đường chết chợ...!
Chẳng nói về kết cục phiên tòa, chẳng nói về số phận bà Cả Cọc nữa, chỉ biết rằng các bần cố nông không ai muốn nhận ngôi nhà ấy. Người ta chia cho 3 hộ, 2 hộ, rồi 1 hộ cũng không ai muốn nhận...
Lão Tý là cốt cán, so trong đám bần cố thì nhà lão khá hơn cả, khá hơn là nhờ ở cái sức vóc của lão, mà sức vóc của lão có được lại là nhờ cái tài ăn bẩn của lão, ăn bẩn nghĩa đen ấy... Con gà, con mèo, con chó con, lợn con nhà ai chết toi chết dịch không biết từ bao giờ, người ta ném ra đầu ngòi, (Cái nơi không ông xã ông thôn nào, không văn bản nào quy định nhưng người ta vứt xác động vật chết, vứt quần áo, đồ dùng người chết ở đấy từ bao đời) Có khi, người vừa đi qua thấy giòi đã bò lổm ngổm trên mắt con gà nhưng quay lại thì cả gà cả giòi đã biến mất..., nếu rỗi hơi tò mò đến nhà lão tý thể nào cũng biết con gà ấy đi đâu.
Ngôi nhà ngói 5 gian, cổng tây mở vào cái lối gạch chạy cong theo vườn, rồi tường hoa, bể nước mưa..., mẹ kiếp! Ăn dè hà tiện mười đời nữa nhà lão Tý cũng chẳng dám mơ đến cái bể nước mưa..., lão trằn trọc cả đêm..., lão chứng kiến ánh mắt hoang dại của bà cả Cọc, lão nghe rõ mồn một lời nguyền của bà... lão sợ..., nhưng cơ hội trời cho không biết đến bao giờ mới có lại..., chắc chả bao giờ ..., lão tiếc...!
Hôm sau, người ta thấy lão Tý phờ phạc vào ủy ban...
Khi đi, khi vào ủy ban, lão đờ đẫn phờ phạc bao nhiêu thì khi ra khỏi ủy bạn, trên đường về hắn lại hưng phấn bấy nhiêu..., cán bộ giác ngộ cho lão và chưa bao giờ lão thuộc bài nhanh thế, lão vừa đi nừa nói như cái loa...
-Làm gì có lời nguyền..., làn gì có mê tin dị đoan..., Đảng cho bần cố nông đổi đời..., phải bài trừ mê tín dị đoan.., là cán bộ, phải gương mẫu...
Cứ thế..., bao nhiêu khẩu hiệu, bao nhiêu đường lối chủ trương, lão nói vanh vách ..., y như cán bộ tuyên huấn...!
Ngay chiều hôm ấy, cả nhà lão sang ở ngôi nhà bà Cọc..., chỉ gọi là sang ở bởi lão không phải “Dọn sang”, không phải dọn vì chẳng có gì đáng mang theo, người ta chỉ lấy đi những giường, tủ, những mâm, những nồi đồng chứ những niêu những nồi đất sứt của nhà lão..., bên bà Cọc còn đầy...!
Hình như lời nguyền chẳng mảy may linh nghiệm, mấy đứa con lão chạy chơi trên sân gạch, trong ngõ gạch, bên tường hoa... rồi uống, rồi tắm nước mưa ..., hình như nom đẹp hơn, thích hơn.
Những năm sau đó, lão nuôi vịt, chẳng như mấy nhà nghèo phải làm chuồng làm trại tốn bao nhiêu tre, bao nhiêu rơm rạ và công sức, lão cứ lùa vịt vào sân rồi đóng hai cánh cổng lim lại, mặc cho chúng ngủ đâu, ị đâu, đẻ đâu cũng được... thế mà hay... vịt nhà lão sinh đàn đẻ đống, không bị chết toi như nhà khác ..., nhà lão giàu hơn người rõ rệt...
Phen này nữa thì mấy thằng, mấy con ngứa mồm mới câm họng..., nhìn lão ở nhà ngói tây, thấy vịt nhà lão không chết..., chúng nó ghen... Đe...e ... èo mẹ..! Mời thì còn sợ..., sợ rồi lại còn tiếc..., tiếc mà không được nữa thì cạnh khóe, móc mách... Làng Thị Cấm được về Hà Nội, người ta bảo: Trên lấy đường 70, chạy từ ngã tư Nhổn về Đại Mỗ làm mốc, bên phải thuộc Hà Đông, bên trái cắt về Hà Nội. Thì đúng như thế..., nhưng lão Tý cho rằng chỉ mình lão biết cái nguyên nhân sâu xa của việc cắt nhập ấy.
Lão cho rằng Hà Nội thiếu chỗ đổ cứt nên lấy khu đồng Cầu Giát làng lão làm kho chứa cứt, không thể đổ cứt Hà Nội lên đất Hà Đông được nên người ta mới cắt cho làng lão về Thủ Đô là vì thế, chứ ông Trần Duy Hưng, ông Xuân Thủy là người hàng xã thật đấy..., nhưng họ là những người nhiều chữ..., đời nào muốn rước cái của nợ ấy về cho dân cho xã làm gì.
Ngày ấy, chính sách thu hồi đất rõ ràng và nghiêm túc hơn bi giờ nhiều, đã lấy đất thì phải trả dân công ăn việc làm..., thế là lão cùng ba người nữa được tuyển vào công ty đổ thùng.
Người ta xây bạt ngàn những cái bể bê tông ở vệ đê Cầu giát..., ngoài phố người ta ỉa vào thùng rồi hàng tuần có xe của công ty vệ sinh đi thu gom những cái thùng ấy chở về Cầu Giát, bọn lão đón rồi đổ những thùng ấy xuống bể..., thế nên cả làng lão gọi công ty vệ sinh của lão là công ty “Đổ thùng”.
Thế là lão được “Thoát ly”, được đi làm theo ca theo kíp, có sổ gạo và bìa thực phẩm..., vẫn là thành phần “Cơ bản” nhưng bây giờ lão thuộc giai cấp “Công nhân”, giai cấp tiên phong của Đảng.., hơn hẳn bọn nông dân khố rách áo ôm...
Từ đấy, người ta thấy lão thường xuyên mặc đồng phục công nhân đổ thùng, những lúc xuất hiện trên đường làng, khi họp hành ngoài đình, ngoài kho, cà cả khi đi ... ăn cỗ..., nhời ăn tiếng nói của lão có vẻ cũng tiên phong, cũng gang thép hơn...
Vài người yếu bóng vía nể lão ra mặt nhưng cũng không thiếu kẻ hằn học ghen ghét, họ kháo nhau, thậm chí nói ngay sau lưng lão.
-Đèo... mẹ! Là cái thằng đổ cứt chứ đe...e éo gì...!
Lão mặc kệ...! Cơ bản lão vẫn oai, có nhà cao cửa rộng, có sổ gạo, bìa thực phầm... ở đời, tránh sao được bọn người ghen ăn tức ở..., đa số dân làng nể lão, chính quyền cũng nể cái mác công nhân của lão..., thế là được rồi.
Thế rồi đùng một cái lão tâm thần ..., không! Tâm thần là tên bây giờ.., ngày ấy người ta gọi là điên, là phát rồ phát dại...
Thoạt đầu, người ta thấy lão chăm chỉ thái quá ở những hố cứt, lão không đi găng, cứ tay trần mà bưng mà đổ..., có người góp ý liền bị lão phê bình là lập trường không vững vàng, là tư tưởng tiểu tư sàn, là ..., vân vân ..., bao nhiêu những gì nghe được trên đài Ga len lão đem hết ra để phê bình..., người ta, chả ai dại gì tiếp nhời lão nữa.
Rồi lão đấu tố cả lãnh đạo, đem gương mấy tên địa chủ ra mà dọa họ..., về làng, lão mặc bộ đồng phục còn nguyên mùi cứt đi họp, lão cố tình tạo cớ để người ta phản ứng để rồi phê bình và lên lớp họ...
Thế rồi công ty đổ thùng cho lão hưu non và lão rồ thật sự, lão cứ đến khu bể ở Cầu Giát, cứ chỉ trỏ, cứ mắng mỏ đám công nhân không biết phát huy vai trò tiên phong..., cứ dọa dẫm người ta là tiểu tư sản, là địa chủ ngóc đầu dậy...
Rồi một buổi sáng, vợ con lão lặng lẽ hạ lão từ trên cái dây treo ở sà nhà xuống..., không biết lão kiếm đâu được cái áo xô, mặc vào rồi treo cổ tự tử ở đúng chỗ cái cột mà bà Cọc đã chém.
Vài năm sau, không chịu nổi những lời nhiếc móc, vợ con lão chuyển về khu vườn cũ... mấy thằng con trai vẫn đi thả vịt, vịt của họ vẫn không bị chết toi..., vợ con lão vẫn mạnh khỏe nhưng vui hơn vì không phải nghe những lời quở quang nữa...
Mãi đến thời mở cửa, đất cát lên giá mới bán rẻ được khu nhà đất ấy cho thằng Chính làm xiểng cơ khí.
Vợ chồng thằng Chính làm ăn khác giả được vài năm, ngôi nhà bà Cọc ngổn ngang những sắt thép dầu mỡ, họ không ở đấy nhưng coi trọng khu bàn thờ..., rằm, mùng một nào cũng có hương hoa, xôi thịt..., họ khấn thần linh thổ địa, khấn những người đã từng là chủ khu đất và ngôi nhà này và đặc biệt, bao giờ họ cũng khấn tên cúng cơm bà cả Cọc, trình bày như với người còn sống rằng: Chúng con mua lại chứ không phải người cướp nhà cướp đất của bà, chúng con thành tâm dâng lễ, xin bà phù hộ độ trì cho chúng con mạnh khỏe, làm ăn buôn bán được hanh thông, chúng con hứa sẽ gìn giữ ngôi nhà, sẽ thờ cúng chu đáo mãi mãi...
Hơn chục năm, vợ chồng Chính khá lắm, họ gom hàng phôi từ những lò rèn trong làng trong xã, sơ chế rồi đổ cho những đại lý ngoài phố...
Thế rồi vợ Chính bị tai nạn, cái máy tiện kê trong nhà bà Cọc do một tay thợ lành nghề vận hành, chả biết tý toáy thế nào, cô ả lại bị nó xơi mất ngón tay trỏ ...
Thế rồi hàng Trung Quốc tràn sang, các lò rèn dần đóng cửa, các đại lý ngoài phố cũng thôi lấy hàng ...
Vợ chồng Chính đóng cửa ngôi nhà ấy..., đất làng Canh ngày một lên giá, họ chuyển vốn làm bất động sản,  chỉ rằm mùng một là không quên vào thắp hương khấn bà cả Cọc...
Họ rao bán..., nhiều người đã vào xem, người ta trầm trồ khen cái kiến trúc, khen những cái cột lim thấm dầu mỡ, khen khung cảnh yên bình... nhưng ai cũng đi rồi không quay lại, kể cả người đã đặt tiền ...!
Vợ chồng Chính đang rao bán rẻ...!

(Chuyện nghe kể lại, ngôi nhà vẫn còn, người viết chỉ được sờ tay vào vết chém và vợ chồng Chính đang cần bán!)

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Bàn thắng tôi mơ...!

Mê nhất cú vẩy má ngoài của long..., chỉ còn chân trái chạm đất, góc sút đã rất hẹp, người đã ngả hết sang phải... bàn chân phải đưa ra sau... một cú bẻ má ngoài điệu nghệ, trái bóng vẽ một hình cung bay qua tay thủ môn... vào lưới...!
Đúng ra người Viết ta phải như thế...! Nếu nhiều người chọn cách như Bầu Đức, nhận được những công nghệ kiểu A sê nal ... những môn thể thao khác những ngành khác hoàn toàn có thể tin tưởng vào người Việt và đất nước minh, dân mình mới thể hiện được hết khả năng.

Phượng truyền bóng
long khống chế bằng đầu
Tôi chẳng tin đâu
Khi góc ghi đã hẹp

Phút giây ấy
long thật sự là rồng
Chân trái trụ
Mình uốn cong... như hình đất nước
Chân phải ra sau
"Một đường cong cong"
Vẽ lên hình vòng
Một đường cong
Bóng bay vòng
Vào lưới

Tôi đã thấy
Một Viết Nam
Về với thật Việt Nam

Bầu đức
Chọn đúng hướng
A sê Nan
Chọn đúng đường
Âm thầm 8 năm
Để hôm nay
Nổ tung cả cầu trường...!

Hỡi các môn các ngành khác
Thôi đừng nhớn nhác
Hãy chọn đường
Để về lại VIỆT NAM....!

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

LIÊN QUAN ĐẾN CCRĐ, Giải thích câu: "Thách nhà giàu húp tương"...!

Truyện thứ hai.
Một hôm, về quê vợ ăn giỗ, thấy cả nhà giới thiệu một cô em họ đẹp ơi là đẹp lại làm đến tận tiến sỹ ở Thủ đô, tôi mới mon men bắt chuyện.
-Em làm tiến sỹ về lĩnh vực gì ...?
-Dạ...! ngôn ngữ học anh ạ...!
Ôi...! May quá...! Tôi vẫn thường tự ty về vốn từ ngữ văn chương của mình, cứ thấy ai là nhà báo, nhà văn hay nhà thơ là tôi thấy mình nhỏ bé. Thường ngày, trước vợ con bạn bè, phét lác là thế mà bỗng dưng cứng họng, chẳng giám nói gì. Nay tự nhiên có cô em họ xinh đẹp nhường này làm thầy thì còn gì bằng, tôi bắt đầu từ việc sử dụng ngôn ngữ bừa bãi của các giới trong xã hội.
Ví như, vài năm trước tự nhiên thấy người ta thi nhau dùng hai chữ “Dung dị”, nghe cũng hay hay, là lạ và cũng hiểu lơ mơ, nhưng mà dùng nhiều quá hóa ra khó hiểu... Gần đây nữa là hai từ “Phản cảm”..., quái lạ...! Tôi tập trung tất cả những kẻ quen biết, tốt nghiệp phổ thông từ trước những năm hai nghìn lại, tra khảo mãi mà không thằng nào dám nhận là đã từng được dạy hay chí ít là đã từng được nghe đến hai cụm từ này...
Thấy cô em chẳng tỏ thái độ gì, tôi đâm nghi ngờ bèn cậy cái “Tuổi già” để hỏi xem cô giải thích thế nào về câu ngạn ngữ: “Thách nhà giàu húp tương”, vốn đã hỏi và rất ít người hiểu...
Em mới nói vài câu mà tôi đã phát hoảng.... Ôi...! Giá như em đừng là Tiến sỹ và càng đừng là tiến sỹ “Ngôn ngữ học”, giá em chỉ đẹp thôi thì tôi bớt buồn... bởi em giải thích rằng.
-Ý câu ấy là; Nhà giàu thì người ta thèm gì tương...!
Tôi càng tò mò gặng hỏi.
-Vậy khi nào, hay hoàn cảnh nào người ta dùng câu này...?
-Khi có ý khen người giàu có...!
Ối dời cao đất dày ơi...! 
May mà tôi mới chỉ nghĩ thế, còn đủ tỉnh táo để nghĩ đến danh dự của cô em Tiến sỹ cùng sự tồn vong của bữa cỗ nên vội tìm cách rút lui.
-Thôi, đề tài này để khi khác, vào ăn cỗ kẻo các bác chờ...!
Nói thế chứ, mãi đến giờ tôi vẫn không khỏi buồn, buồn cho học hàm học vị của ta..., buồn cho văn hóa dân ta..., đến câu ngạn ngữ của ông cha mà một “Tiến sỹ ngôn ngữ học” không hiểu một tý gì..., cả nghĩa đen và nghĩa bóng...
Bạn có hiểu câu ấy không...? Thôi thì để tôi giải thích nhé!
Người ta sẽ nói “Thách nhà giàu húp tương” khi ai đó đố (hay thách) một người, làm một việc, mà việc ấy là sở trường của họ ví như; thách đố tên trộm lấy được cái xe vừa không khóa vừa không có người trông. Đố ông lái xe lâu năm biết cái cần số của chiếc xe thông thường được bố trí như thế nào..., .v.v.
Khó hiểu là ở chỗ, thế chả hóa ra húp tương lại là sở trường của nhà giàu ư...?
Tương là thứ rất rẻ, xưa nhà nào cũng có, là thức ăn chủ yếu của nhà nghèo. Rau, dưa, tương, cà là bạn thân, là nỗi ám ảnh của nhà nghèo cơ mà...
Hay là câu này sai...? Nhưng lại thường nghe “Các cụ dạy, cấm có sai bao giờ” cơ mà..., sai làm sao được...!
Thưa rằng không sai...! Nhưng muốn hiểu ta phải ngược lại thời gian.
Ngày nay, có rất nhiều nguyên do để lắm kẻ đang nghèo khó trở nên giàu có, nhưng ngày xưa thì không, khi đời sống còn là tự cung tự cấp, sự giàu có chỉ bắt đầu bằng chịu khó và tiết kiệm.
Nhà nọ dồn hết tâm hết sức cho công việc, họ cần cù bán mặt cho đất bán lưng cho trời, họ trăn trở cùng sự phát triển của cây trồng vật nuôi, họ nắm được quy luật thời tiết để vận dụng kịp thời.
Không lười nhác thì họ cũng không lãng phí, cuối bữa còn thừa ít tương, vì trân trọng thứ nuôi sống người, vì tiếc của nên họ trộn cơm ăn cố hoặc nếu hết cơm thì họ uống, tức là ... húp nốt, vừa không lãng phí vừa để tăng sức mà lao động.
Vợ con họ thấy thế thì điều chỉnh..., điều chỉnh theo số người ăn và số thức ăn trong bữa..., điều chỉnh mãi cho đến khi người ta biết cách múc tương sao cho vừa với nhu cầu.
Nhà kia cho rằng tương là thứ rẻ rúng, lại mặn lắm, ăn không hết thì đổ đi..., húp vào chỉ tổ khát nước..., chẳng bận tâm gì và tất nhiên bữa sau lại thế....
 Cứ như vậy, vốn đầu mùa nhà nào cũng ngả một chum tương nhưng nhà này chỉ vài tháng đã hết, nhà kia còn dư đến mùa sau.
Đấy mới chỉ là chum tương, trong đời sống còn bao nhiêu thứ để mà tiết kiệm và lãng phí nữa. Chăm chỉ và tiết kiệm, của cải cứ được tích lũy mãi mà trở nên giàu có... Lười biếng và lãng phí thì lúc nào cũng thiếu thốn, thiếu thì yếu, thì bệnh tật, thì nợ nần..., cứ như thế mà nghèo.
Thế mới biết, tại sao cái hành động đầy khó khăn là “Húp tương” kia, người giàu có thể thực hiện dễ dàng còn người nghèo thì lại... không thể.
Xin người đọc đừng lầm hiểu rằng câu nói này chỉ đúng với “Ngày xưa”, bởi ngày nay có muôn vạn cách làm giàu, người thì lo lót, cơ hội làm quan để ăn hối lộ, kẻ thì trúng đề, trúng sổ số, người lại liều mạng buôn hàng “Quốc cấm” nhưng hầu hết những người này không thể trở nên giàu-sang được.
Tiền kiếm càng nhiều và càng dễ dàng bao nhiêu thì họ lại càng bộc lộ cái bản chất vốn có bấy nhiêu... Một mặt họ bỏ tiền ra để thể hiện, để cố xóa đi cái gốc tích nghèo khó, để khẳng định mức độ “Hơn người”, một mặt, họ như con thiêu thân khát lửa lao vào kiếm nữa, kiếm một cách hoang giã, tàn bạo và dốt nát... Để rồi, nếu không mắc vào lao lý thì vợ họ cũng hỏng, con họ cũng hư.
Mải ăn chơi thể hiện, họ không chăm sóc vợ, những người đàn bà đang chẳng phải làm gì lại có rất nhiều tiền và cũng có nhu cầu thể hiện..., thế là “Ông ăn chả, bà ăn nem”, chồng mang tiền nuôi gái, vợ rút két nuôi trai... Con cái họ, chí ít thì cũng chẳng học hành tu dưỡng gì bởi “Vượt nghèo đã khó, vượt giàu còn khó hơn”. Chúng vật vờ tìm cách tiêu tiền, để rồi không nghiện ngập thì cũng đàn đúm tóc xanh tóc đỏ, bấm mũi xâu tai, đua xe, đánh lộn, không bệnh tận thì cũng đâm chết người hay bị người ta đâm…Những nhà ấy giữ được “Giàu” đã khó, chứ “Sang” làm sao được..., rồi thì cái nghèo hèn lại chờ họ ở phía trước.
Than ôi...! Ở cái thời cả xã hội nháo nhác nặn túi nhau tôi phải viết thêm vài lời này nhân dịp bàn về cái sự giàu-nghèo… biết đâu chả có người tỉnh ngộ...!