Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

THẰNG VẠN-Không lên bờ được...!

TRUYỆN THỨ NĂM- Không lên bờ được
Con sông Nhuệ chia cánh đồng làm hai phần, bên tả là đồng Phú Mỹ, bên hữu là đồng làng Canh nhà thằng Vạn. Con đê bên hữu, từ cầu Diễn về là liên tiếp đình, chùa, kho lương thực, khu tập thể của công ty vệ sinh, kho xăng, bãi xe bộ đội và cuối cùng là cơ man những bể chứa phân của công ty vệ sinh.
Ngoài phố người ta đi vệ sinh vào thùng, cán bộ Công ty vệ sinh dùng xe chở những thùng ấy về đổ xuống bể, thế nên công ty vệ sinh còn được người ta gọi là “Công ty đổ thùng”. Khu bể ấy chạy dọc chân đê, dài hàng cây số thế nên trên đê chẳng có gì, toàn là cỏ. Khu đồng có quãng đê ấy gọi là Cầu Giát. Nơi tiếp giáp ba xã nên cách xa dân cư đến 3-4 cây số. Đoạn đê ấy cứ như là cái nồi cơm của trâu bò cả làng và tất nhiên cũng là sân khấu là trụ sở của bọn trẻ trâu.
Không biết học trò và trẻ trâu bọn nào nghịch hơn nhỉ?  Có lẽ bằng nhau nhưng cách nghịch thì khác. Chúng vào vườn công ty đổ thùng chặt trộm chuối cho vào cống rồi nút rơm hai bên chờ chín hẳn mới lôi ra khao quân.
Chúng bắt những con vịt của làng khác (mải kiếm ăn đi quá giới hạn) bọc nguyên cả con (Đôi khi con vịt còn sống và chúng để thò cái đầu lên cho nó kêu rất dã man) trong đất thó rồi vơ rơm  nướng.
Chúng cử vài đứa vào chùa xin nước mưa rồi vờ hỏi cụ sư Thường những câu ngây ngô cốt giữ chân cụ để những đứa khác xé rào chui vào vườn trộm ổi trộm mít. Cụ sư Thường giỏi lắm, người thon nhỏ trong bộ quần áo truyền thống bằng lụa tơ tằm, phong thái ung dung, dường như lúc nào cụ cũng cầm cái quạt giấy. Không chỉ có kiến thức uyên bác, cụ còn giỏi võ nghệ, có đận một bọn định vào cướp chùa bị cụ dùng đao đánh cho tan tác. Nghe nói cụ là thành viên mặt trận tổ quốc thành phố. Già trẻ trong làng ai ai cũng mến nể cụ, nhiều người bảo cụ thâm, nói nhẹ nhàng nhưng mà thấm thía.
Đang tiếp chuyện mấy đứa trẻ, trời không mưa không gió mà ngọn ổi cứ lắc lư, cụ bảo con lớn nhất.
-Đào! Cháu ra bảo thằng Vạn cẩn thận kẻo ngã, mới mưa thân ổi trơn lắm đấy, đừng hái quả xanh, chọn mớ chín chín, mang vào đây bác chia.
Cụ giỏi quá, ngồi trong nhà mà nhìn thấy thằng Vạn leo ổi, con Đào cứ há mồm, tái mặt chả nói được.
-Kìa! Bác bảo thì đi đi...!                                                    
Gọi là trẻ trâu nhưng không phải đứa nào cũng có nhiệm vụ chăn trâu thả bò, bởi nhập bọn còn có mấy đứa cắt cỏ, mấy thằng “Hót cứt”, đó là những đứa nhà không có trâu bò, công cụ của chúng là một đôi quang gơ, một cái xương bả và một đoạn xương sườn cong cong, của trâu hoặc bò. Hễ con nào ỉa là chúng tranh nhau dùng cái xương bả như xẻng đón, tay kia dùng cái đoạn xương sườn hót đổ vào gơ, gánh về cho vào chuồng lợn làm phân gọi là “phân chuồng”. Thằng nào thấy đống phân mà chưa sẵn dụng cụ thì nhanh tay lấy một cái que, một cành lá, thậm chỉ chỉ cần một thân cỏ may cắm lên tức là đống cứt đã thuộc về nó, đó là một thứ luật được người ta rất tôn trọng.
Trong bọn “hót phân” ấy có em thằng Châu, thằng này nhút nhát, người gày trắng, nom rất thư sinh. Thoạt đầu, đi làm cái việc ấy là vì nó thương mẹ (nhà nó thất thế nhưng đứa nào cũng thương mẹ và học giỏi), đồ nghề của nó chẳng có cái gì nên hồn, đôi quang song được làm lại từ những cái cũ của người lớn đã hỏng đến mức không thể dùng được nữa, mỗi bên lẽ ra phải là một cái gơ nhưng của thằng này lại cọc cà cọc cạch, một bên là cái thúng sơn, một bên là cái mủng, chúng đều được cạp lại từ những cái to hơn đã hỏng. Làm gì có xương bả xương sườn, nó xúc cứt bằng cái hót rác cũ kỹ và một thanh tre đẽo gọt như chiếc đũa cả. Lúc đầu nó cứ lóng nga lóng ngóng, mỗi bên chỉ một đống phân to là cu cậu đã rụt cổ, còng lưng, loạng choạng từng bước có khi vấp ngã cứt trâu cứt bò bắn tóe loe.
Hễ bị ai trêu chọc nó chẳng dám nói gì chỉ đỏ mặt, có khi thút thít khóc. Nhưng may! thằng Vạn (thủ lĩnh đám trẻ trâu) là bạn của anh nó nên ngay từ đầu nó không phải học “Luật” mà cũng chẳng thằng nào dám bắt nạt. Được cái thằng này ngoan, các anh đi tắm, đi ăn trộm, tát cá, bắt chuột thoải mái, đã có nó “ở nhà” coi giữ cả đàn trâu bò. Vì thế, các đàn anh, dưới sự chỉ đạo của thằng Vạn, luôn chiều chuộng nó, những “Chiến lợi phẩm” mang về như cá, chuột, ổi mit.v.v bao giờ nó cũng có phần. Chúng tổ chức lấy trộm của bọn Ngọc Mạch trang bị cho thằng Bé đầy đủ đồ nghề. Thấy thằng em chưa biết gánh thằng Vạn dạy rất chu đáo.
-Đ. mẹ cái thằng này! Đứng thẳng lên xem nào! Ông đá đít cho phát bây giờ! Xoay bên này ra trước! Một vai thôi...! Thế...! Đi đi...!
Hôm nào trâu ăn no, ỉa nhiều, được đầy hai thúng, bọn lớn thay nhau gánh hộ. Một hôm, chẳng hiểu sao bọn ngưu không chịu ỉa, thằng Bé tong teo mỗi bên một tí phân khô (của những ngày trước ), nhẹ nhưng mặt nó buồn thiu. Thằng Vạn ái ngại cho em nhưng cũng chả biết làm thế nào. Đoàn trâu bò đã đủng đỉnh về gần đến lũy tre làng, như nhớ ra điều gì, thằng Vạn chụm tay làm loa gọi bọn đi trước.
-Ê...! Đ..mẹ chúng mày...! Dừng lại đã...!
Đàn xúc vật bị dồn ứ lại ngơ ngác, thằng Vạn lấy miếng xương xường, bới tách cái vỏ phân khô rồi móc lấy một ít sền sệt, đoạn nó đi từ dưới lên trên, lần lượt quệt vào mũi mỗi con một ít..., kỳ lạ thay..., như có phép màu..., bọn trâu bò thi nhau ỉa, thằng Bé hót không hết, mặt nó rạng rỡ hẳn lên.
-Anh Vạn giỏi thế...!
-Giỏi đéo gì...! Chẳng qua hôm nọ tao đang không buồn nhưng đi qua chuồng chồ nhà bà Xuân, thối quá, thế đ. nào tự nhiên lại mót quặn cả lên, chạy vội ra đồng..., sổ một đống...! Xướng...! Nhẹ cả người...! Thế nên hôm nay tao mới thử, hóa ra đúng! Hề! hề! Đ.mẹ...! Người cũng như trâu ..., khác đéo gì!
Bên kia sông là cánh đồng màu của Phú Mỹ, mùa nào thức ấy, họ trồng toàn những thứ mà dân chuyên lúa bên này thèm rỏ rãi; ngô, xu hào, bắp cải, khoai tây…., nhưng ai thèm chứ bọn trẻ trâu thì không. Chúng bơi sang trộm ngô về nướng, rau quả thì mang ra Cầu Diễn bán lấy tiền mua thuốc lá, mua kẹo. Một hôm, thằng Vạn ra lệnh “Tổng động viên”. Đứng xoạc chân trên thân cây Xà cừ bị đổ nằm nghiêng xuống triền đê, một tay giữ cành, tay kia chỉ mặt bọn đàn em, nó phổ biến kế hoạch tác chiến.
-Ba đứa con gái ở nhà trông bò...! Không được để con nào ăn lúa..., “Trông đồng” mà ra thì lộ hết nghe chưa!
-Vâng...!
Con lớn nhất có bộ mặt vừa đen vừa vuông vức nhanh nhảu nhận lệnh.
-Còn lại, tất cả sang sông...! Thằng Minh nằm trên ụ kia cảnh giới.... Đ mẹ mày! Phải nằm, không được ngồi, không được đứng nghe chưa!
-Dạ vâng!
Thằng minh nhận lệnh.
-Hễ thấy bất cứ ai thì hô thật to rồi nhảy ngay xuống sông nghe chưa!
-Dạ vâng!
-Dạ đéo gì mà lắm thế ...! Thỉnh thoảng phải quay ra đằng sau nghe chưa! Nó mà đi từ dưới sông lên tóm gáy thì mày bị bắt trước, nghe chưa...!
Vừa há mồm như uống từng lời chỉ giáo của “Đại ca” thằng Minh vừa tưởng tượng thấy đang nằm quan xát bỗng một bàn tay rắn chắc, thô ráp tóm lấy cổ, quay lại..., một bộ mặt giữ tợn, một họng súng đen xì di sát… nó rùng mình, nhưng ngay lập tức nó giật mình, thằng Vạn quát.
-Ơ..! Đ.mẹ cái thằng này...! Có nghe không đấy...?
-Dạ vâng!
Vẫn “Dạ vâng” nhưng lần này giọng nó trùng hẳn xuống không còn hăng hái, dứt khoát như trước, thằng Vạn tiếp.
-Còn chúng mày!  không đứa nào được cổi trần, phải mang theo áo. Sang đến nơi, đầu tiên, mỗi đứa lấy một quả bí ngô càng to càng tốt để làm phao.... sau đó thằng Hoạch dẫn thằng Trác thằng Hòa, thằng Mè đi lấy rau, còn lại theo tao lấy ngô, Chiến lợi phầm, bọc vào áo, để lên phao, bơi về...., hễ  thằng Minh đánh động thì không được cố, phải rút ngay, nghe chưa...!
-Vâng!
Đám em dạ ran, thằng Vạn khoát tay.
-Đi!
Không ồn ào như khi tắm hay đùa nghịch, chúng lặng lẽ vượt sông, mọi việc đang diễn ra như đúng kế hoạch, đúng lúc chúng định thu quân thì tiếng thằng Minh tru tréo.
-Cha…ạy...ị !...cha..i ..ạy...ị ! Dân quân!
Ngay lập tức hai tiếng súng xé tan sự tĩnh lặng, bọn trẻ nhanh chóng ào xuống sông bơi về, chẳng thằng nào bỏ chiến lợi phẩm.
Tất cả đã lên bờ, duy nhất thằng Bé cứ lóp ngóp bơi vòng tròn, nó bơi chưa thạo, hai tay ôm quả bí và cái quần bọc đầy ngô non, hai chân đập “Tằm phòng” lõm bõm, thằng Vạn quát.
-Lên ngay...! Nó bắn bỏ mẹ bây giờ...!
Thằng Bé tội nghiệp vẫn cứ bơi vòng tròn, sợ dân quân..., sợ đại ca..., nhưng mặt nó không tái mà cứ đỏ nhừ, thằng Hoạch bỗng nhớ ra điều gì, quay sang bọn con gái.
-À...! Đ mẹ chúng mày...! Xuống ngay dưới kia trông bò! Thằng này không mang áo, lúc nãy tao thấy nó cởi quần bọc xu ngô..., chúng mày đứng đây nó đéo giám lên đâu.... Bước!


THẰNG VẠN-Chuyện thứ ba và thứ tư

TRUYỆN THỨ BA- Giấu gà trong bụng
Cũng là với bà Nhâm, hôm ấy trời rét căm căm, đi cấy về muộn lắm, rửa chân tay ở cầu ao gạch xong, một tay cầm đôi quang cặp, tay kia vừa đòn gánh vừa nón, bà vội vã ào vào ngõ. Đã nhá nhem, thằng Vạn từ trong đi ra, đang vội nhưng bà không thể không thấy cái dáng điệu bất thường của nó, sao hôm nay thằng ông mãnh cứ gù gù thế kia, cũng chỉ là ý nghĩ thế thôi chứ..., bà còn đương vội.
-Mợ đi cấy về muộn thế!
Nó đon đả chủ động chào, vì không hề nghi ngại nên bà hỏi như đùa.
-Mày giấu cái gì trong bụng đấy?
-Có gì đâu mợ!
Thằng Vạn vờ ưỡn thẳng người giơ hai tay như phân bua, nó nghĩ trời tối rồi, mợ chả thấy gì đâu. Chân vẫn bước, tiện tay bà chọc nhẹ cái đòn gánh vào bụng nó... “Quéc” tiếng gà phát ra từ trong bụng thằng Vạn, sợ quá, bà Nhâm bước vội như không nghe thấy gì…./.
TRUYỆN THỨ TƯ (Ăn trộm bưởi)
Đương nhiên là thằng Châu học giỏi, cụ nó thi đỗ được bổ làm quan huyện, ông nó không làm quan nhưng Nho-Y-Lý-Số cái gì cũng giỏi lắm, bố nó làm thư ký hay thông ngôn gì đó cho Tây. Ngày trước, thi thoảng nhà nó có Tây về chơi, họ cười nói với nhau như ta với ta.
Cũng đương nhiên là thằng Vạn học dốt, nó đi học chỉ để nghịch. Thôi thì đủ trò, người ta bảo; “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” nhưng thằng này nghịch còn hơn cả ma quỷ. Nói gì những trò như nhảy qua cửa sổ..., ném gạch cho bắn nước bẩn vào cô giáo trẻ...., sát lá thị vào ghế thày hiệu trưởng rồi cả lũ chờ nghe thầy trung tiện..., nó còn giám tụt quần con gái để ăn năm cái kẹo bột của thằng Sơn. Đang giờ học nó ngủ ngon lành, thầy giáo nhắc gọi, nó càu nhàu rồi nhảy phắt qua cửa sổ. Ở ngoài nóng quá, nó chui vào đình, trèo lên bàn thờ, dẹp đồ lễ vào một góc lấy chỗ nằm ngủ. Đình làng thiêng lắm, chẳng ai dám bén mảng đến gần hậu cung trừ các cụ già và cũng chỉ vào những ngày cúng lễ, lỡ cái là về ốm liệt giường liệt chiếu. Có con ngựa bằng đá trắng toát,trơn tuột, nhiều lần trẻ con trèo lên bị thánh vật ngã què chân… Với thằng Vạn thì hình như đình không thiêng, hay là thánh cũng “Ưu tiên con liệt sỹ” thì không biết, nó nằm lên ban thờ thánh, vặt những hạt thủy tinh đính trên áo thánh về chia cho bọn con gái, rút đao kiếm… trèo lên lưng ngựa hò hét om xòm giả làm Quan Vân Trường, thế mà nó chả làm sao cả.
Thấy thằng Châu ngoan ngoãn, học giỏi lại hay chới với thằng Vạn, ông hiệu trưởng cho gọi nó lên giao nhiệm vụ kèm bạn. Thế là từ đó thằng Châu được mẹ cho phép đến nhà thằng Vạn “Học nhóm”. Một hôm lên muộn, nó thấy thằng Vạn đang chỉ huy mấy thằng khác dọn bỏ bưởi, chẳng hiểu gì, nó tròn mắt hỏi.
-Sao nhà mày nhiều vỏ bưởi thế?
Cả vụ, may ra thằng Châu chỉ được vài múi, đấy là của ai đó biếu và bà nó nhường cho. Ăn xong, đem phơi tất cả những thứ còn lại, vỏ và cùi để bà nó làm thuốc còn hạt thì đem xâu vào thành chuỗi, treo tòng teng lên liếp dại, nếu không làm thuốc thì đến dằm tháng tám đem ra cho bọn em nó đốt, cái giống này đượm lắm, khi cháy nổ lép bép, thỉnh thoảng lại “xì” một cái mùi thơm phức, vui mắt, vui tai vui cả mũi.  Chưa bao giờ nó thấy vỏ bưởi, cùi bưởi, hạt bưởi nhiều đến như thế, to như cái ôm rơm mẹ nó vẫn mang vào bếp nấu cơm, thằng Vạn dừng tay.
-À! Thằng này chưa được ăn...! Chúng mày đâu...! Để đấy đã...! Đi tiếp...!
Nó vẫy tay, thằng Châu theo cả bọn ra ngõ, về phía nhà ông Cả Long. Hai thằng đi sau cầm miệng bao tải mở sẵn, thằng Vạn giơ cái gậy gảy rơm có đính thanh sắt nhọn ở đầu … “Phặp”, một quả bưởi dính vào đầu gậy, nó đưa quả bưởi vào miệng bao rồi giật mạnh một cái… “bịch” trái bưởi đã nằm trong bao êm thắm..., Phặp-bịch…, Phặp-bịch…   một loáng đã đầy bao, xóm làng vẫn im phăng phắc, chó cũng không biết mà sủa.
Hôm ấy, thằng Châu được bữa no, đến lúc phải về nó cứ nhìn hau háu vào chỗ bưởi còn lại, dễ đến chục quả chứ chả ít, đã no đã chán nhưng chắc nó muốn xin về cho bọn em. thằng Vạn hiểu ngay.
-Mày về đi...! Không lấy được đâu. Bà với Mợ biết thì mày nhừ đòn mà bọn tao cũng bị lộ.

Nó nói phải, thằng Châu liếm mép ra về, lâu lắm mới có được cái cảm giác căng căng ở bụng, nhưng mà nó cứ nôn nao thế nào ấy, với lại môi, miệng, lưỡi cứ như bị sưng lên, hăng hăng, tê tê như có kiến đốt./.

THẰNG VẠN-Lòng tốt của tên trộm!

TRUYỆN THỨ HAI- Lòng tốt của thằng ăn trộm
Bà Nhâm, mẹ thằng Châu là một người rất tốt. Với bà, không thể dùng từ nào hơn là “Thương người như thể thương thân”, được sinh ra trong một nhà danh gia vọng tộc, làm dâu một gia đình trí thức đông phương, thế mà đùng một cái thành kiết xác, thành con nhà địa chủ xấu xa, từ vương giả đến củ khoai củ sắn thế nên bà hiểu người, thương người lắm chứ chả hận thù ai. Trong đám bạn của con, thằng Vạn được bà ưu ái nhất, thằng Châu ăn cái gì bà cũng cho nó cái đó (có khi bằng chính khẩu phần của bà), bà xoa đầu, khen ngợi với ý bù đắp phần nào cho nó, bà dạy thằng Châu điều gì thì cũng dạy nó như thế. Thật lòng thì thằng Vạn kính nể bà lắm, chỉ mình bà là nó luôn gọi bằng mợ sưng con, chẳng dám hỗn láo với bà bao giờ. Ở chỗ đông người, ai bắt nạt bà (nhà địa chủ, ai mà chả bắt nạt được) là nó bảo vệ ngay, bà Nhâm nhờ vậy cũng đỡ khối.
Càng lớn thằng Vạn càng lộ chất lưu manh, nể sợ bà Nhâm là thế nhưng đói quá nó cũng không tha. Nhà bà có một khóm chuối trồng trên cái nền nhà, ngôi nhà thờ, đội cải cách bớt lại hỏng nhanh quá, nhà không có điều kiện bà mới nhờ người thu lại một gian, dồn vật liệu cho phần còn lại, thế mới thừa ra khu nền. Đất mới lại gần nhà, tối tối, bọn trẻ cứ ra đấy mà tè thế nên bụi chuối tốt lắm, buồng dài gần chấm đất, quả nào quả ấy căng tròn mát mắt, lại áng chừng được thu hoạch đúng dịp tết, bà Nhâm mừng lắm. Thế rồi một hôm, ngủ dậy thấy chỉ còn một nửa... Đích thị là thằng Vạn rồi, nó lấy trộm nhưng còn thương bà đây, gặp nó bà gọi như quát nhưng cũng chỉ đủ cho nó nghe.
-Vạn!
-Dạ!
-Lại đây bác bảo!
Thằng Vạn nhe răng cười, nửa như cố tình tỏ ra vô can nửa như thú tội.
-Dạ! Mợ bảo gì con?
-Dạ vâng gì! Ai cho mày cắt chuối nhà bác?
Nó trối theo phản xạ, bao giờ, với ai, việc gì nó cũng trối thế.
-Đâu! Con có lấy đâu!
Ai mà biết được thằng lưu manh lại có lúc thật thà đến tội nghiệp, nói cách khác thì chất người trong nó vẫn còn... Giá bà Nhâm cứ mắng, cứ chửi thì nó sẽ còn cãi, còn trối, đằng này bà lại thống thiết giải thích với nó rằng đấy là tất cả cái tết của các em, là mâm ngũ quả cúng cụ, giọng bà đã run run thế là nó sợ..., không giám nhìn vào bà nữa, di di ngón chân cái xuống đất nó vẫn cãi... nhưng mà.
-Biết thế con mới để lại cho mợ một nửa đấy thôi...!
Bà Nhâm cười mà nước mắt chảy ra, bà vẫn thương nó, bà đoán có sai đâu..., nó vẫn còn nghĩ đến bà, giọng bà âu yếm.
-Ừ...! Tôi cảm ơn anh...! Nhưng mà thôi đấy nhé...!
-Vâng...! Mợ yên tâm...! Con đi đây...!
Nó đập cái dây thừng vào sườn con trâu, lùi lũi đi. Thế rồi đến tết, nó chỉ có thể để lại cho bà đúng ba nải to nhất, sau lần mất thứ hai bà Nhâm nói với các con.
-Mẹ biết rồi! Lần này thì không mất nữa đâu!


Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Thằng Vạn! Mở đầu và Dọa rung roi

Thằng Vạn là nhân vật có thật, những chuyện của nó cũng có thật. Được sinh ra nhờ cuộc kháng chiến chống Pháp, lớn lên trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ rồi bươn trải thời mở cửa, thằng Vạn chứng kiến sự đổi thay của xã hội ở cái góc, cái mảng của nó.
Tôi chỉ viết lại những gì mình biết, còn một điều biết nhưng lại không thể viết đó là; cuộc đời Vạn còn phức tạp hơn nhiều, còn khối chuyện thú vị hơn nhiều nhưng tôn trọng sự thật, không không biết chắc, không kể.
THẰNG VẠN
Nó là thằng không cha không mẹ, ấy là nói theo kiểu những người già trong xóm trong làng mỗi khi thằng Vạn gây chuyện chứ làm gì có chuyện “Không cha không mẹ”, tất cả các loại “Con” ở trên trái đất này chỉ có thể được xuất hiện sau ít nhất một lần gian díu giữa một con đực và một con cái mà cái con ra đời “Phải gọi” và “Được gọi” là bố và mẹ..., có nghĩa là, dứt khoát thằng Vạn không phải từ dưới đất chui lên, từ trên trời rơi xuống hay hóa thân từ một hòn đá kiểu như Tôn Ngộ Không.
Nhưng, bảo thằng Vạn không cha không mẹ cũng đúng, bởi lẽ cả làng cả xã này đều không biết bố mẹ nó là ai, xung quanh sự xuất hiện của nó có những tình tiết chắc chắn có thật và những tình tiết chỉ là phỏng đoán.
Tình tiết có thật là, ngay từ ngày đầu tiên, những giờ đầu tiên trong đời, nó đã được người ta để trên bàn của Hội đồng nhân dân, các cán bộ thôn được xã triệu tập họp đột xuất từ tinh mơ rồi nhoắng một cái họ tất bật ra về. Cái thời buổi nhá nhem lẫn lộn giữa theo Tây và theo Ta, giữa Việt minh và Đế quốc, lơ mơ là chết liền, người ta còn chẳng giám ho mạnh nữa là nói, nhà nào cũng chỉ lo việc mưu sinh tối thiểu rồi tụt vào nhà là cửa đóng then cài. Ấy thế nhưng các tin thì loang nhanh lắm, tin hôm ấy là: “ Ở trên xã có một đứa trẻ, con liệt sỹ, nhà nào muốn xin con nuôi thì lên mà nhận”... Ông bà Hương mãi mới đẻ được hai mụn con gái, đi xem thầy nào cũng bảo phải nhận con nuôi rồi mới đẻ được con trai, may cho họ, chậm một tý thì nhà ông Sửu dưới Đại Mạch đón mất.
Tình tiết phỏng đoán là; Chắc một bà dân quân, du kích tằng tịu với ông cán bộ nằm vùng, kiểu như ông Đội cải cách ruộng đất, rồi đẻ ra nó. Ông cán bộ chắc đã có vợ, quê thì ở tít tận đẩu tận đâu, bà du kích thì hẳn chưa lấy chồng, lộ ra thì còn đếch gì là “Chiến sỹ cách mạng”, là “Trung kiên, gương mẫu” nữa. Dẫu chỉ là những phỏng đoán nhưng có lý lắm!
Thứ nhất là, bố nó quyết không phải người vùng này, ở đây quý người lắm, nếu thằng nào có con hoang không dám nhận thì sẽ có bà cô, ông bác nhận ngay, không bao giờ họ để giọt máu của họ lạc loài như vậy.
Thứ hai là, phải là con của cỡ ấy thì chính quyền xã mới vội vàng đứng ra giải quyết như thế chứ, con của thường dân thì mặc, chính quyền cách mạng hơi đâu mà can thiệp vào mấy vụ con hoang.
Còn việc bố mẹ nó có là liệt sỹ thật hay không thì không ai biết. Nhưng sau rồi chắc họ chết thật, bởi cho đến tận bây giờ, không một ai, kể cả ông bà Hương, cả chính thằng Vạn chẳng bao giờ thấy ai, chẳng có biểu hiện gì khả nghi là bố mẹ nó về, ít nhất cũng là để kiểm tra xem nó sống thế nào.
Thế là thằng Vạn có ngay bố mẹ nuôi, nuôi nó vất vả lắm, làm gì có sữa, toàn là nước cơm với đi bù nhờ, à quên, bú thuê. Bà Hương bế nó đi khắp làng, vào những nhà đang nuôi con nhỏ, hoặc là đưa cho họ nắm gạo, hoặc là hứa hẹn làm trả cho họ công việc gì đó để nó được miếng sữa. Nhưng mà nghiệm lắm! Thêm một cô con gái nữa, rồi bà đẻ liền hai thằng con trai..., thế cũng bõ!
Những ngày nó còn đỏ hỏn thì chẳng có gì để nói ngoài sự vất vả của ông bà Hương nhưng ngay từ khi biết chạy, biết nói, thằng Vạn đã bộc lộ bản chất, sự nhanh nhẹn đến mức hoang giã, thông minh, láu cá đến mức có thể gọi là ..., lưu manh.
Từ buổi thiếu niên cho đến khi về già, nó gây nhiều chuyện bất thường mà ngẫm cũng thấy hay hay, nay xin kể ra đây theo thứ tự thời gian phần nào những chuyện của nó.
TRUYỆN THỨ NHẤT- Dọa rung roi
Thằng Vạn đồng niên với thằng Châu, nhà thằng Châu bị quy là địa chủ, người ta lấy sạch sành sanh, chỉ bớt cho ba gian nhà thờ bằng tre rỗng tuếch. Thằng Châu là con cả, dưới nó còn bốn đứa em nữa, bố nó di cư vào nam thế là mẹ nó phải một mình nuôi mẹ chồng cùng lút nhút năm anh em nó. Bà thằng Châu, đúng là địa chủ, keo kiệt ghê lắm, Nhà có một cây roi, thằng Vạn sang chơi, thi thoảng bà lão cũng đem cho nó ăn nhưng…, toàn là roi rụng, nó biết thừa…, chẳng có quả nào lành, thậm chí còn thâm tím đến một nửa, biết vậy nhưng nó vẫn ăn.
Một hôm, thằng Châu không có nhà, nó phải ra đồng giúp mẹ, thằng Vạn sang chơi không thấy bạn thì chào bà cụ về ngay, không hiểu bà lão vẫn thế hay từ ngày bị đấu tố ghê quá đâm ..., chột, lễ phép cả với trẻ con.
-Dạ...! Không giám...! Cậu về...!
Quét gần xong cái sân bỗng “bộp” , quả roi rụng ngay dưới chân, thấy lạ ngẩng mặt lên bà thấy thằn Vạn đang dùng chân quắp cho người dính chặt vào thân cây, một tay kéo cành lá che mặt. Giời ơi là giời! Nhà bà còn biết trông cậy vào đâu ngoài cây roi này, cháu bà cũng chỉ được mút mát mấy quả rụng, mà rụng cũng ít lắm vì có chùm nào chín là bà bắt thằng Châu trèo lên hái rồi đem ngay ra chợ, đến thằng Châu ở trên cây bà còn đứng dưới trông chừng không cho ăn vụng nữa là…, bỗng chốc quên cả thân phận, mụ địa chủ lồng lên.
-Tiên sư cha thằng mất dạy! Có xuống ngay không thì bảo?
Thằng Vạn nhoẻn miệng cười gượng gạo, hất hất cái hàm về phía bà lão như thách thức.
Điên tiết, bà vớ cái gậy gảy rơm toan quật cho nó một cái, thằng Vạn vội xòe bàn tay ngăn bà lại.
-Bà đập, không tới tôi được đâu, mà rụng roi đấy!
Cái gậy tụt xuống trong tay bà. Nó nói phải! Thằng oắt con trèo nhanh thoăn thắt cái gậy trong tay bà còng làm sao tới được…, thế có tức không cơ chứ! Chẳng còn cách nào ngoài chửi, bà chửi cho hả cơn tức, cho dịu nỗi xót xa ..., để hy vọng khơi dậy chút liêm sỉ của thằng trộm may ra nó tha. Thằng Vạn cứ ngồi trên chạc cây mà ăn, mỗi khi tiếng chửi lắng xuống thành kể nể, rỉa rói nó lại nhè mấy cái hột vào tay ném đánh “bộp” vào cái lưng còng ..., tiếng chửi lại lồng lên..., cứ như thế rồi lại dịu xuống, lại “bộp”, lại lồng lên. . . Giá như bà lão bỏ đi, thằng Vạnăn no rồi cũng xuống, nhưng khổ! Bà còn sợ nó cho vào túi vào bụng áo mang về... Đến khi bà dùng những lời cay độc nhất, rủa nó là thằng con hoang, đồ không cha không mẹ thì thằng Vạn không chịu nổi, nó đứng hẳn lên xoạc hai chân hai tay trên hai cành roi, ch ửi lại.
-Đ..mẹ con địa chủ già! Có câm mồm không ...! Bố mày mà rung một phát thì mai mất đi chợ...!
Đến nước này thì bà lão thua hẳn, choáng váng, mặt tái dại, cái giống roi đã rụng là nó thâm nhanh lắm, bán ai mua, bà lão giơ hai tay run rẩy xua xua.
-Thôi...! Thôi ...!Bà xin con ...! Ăn bao nhiêu thì ăn, đừng rung… tội nghiệp...!
-Đấy! Thế có phải là ngoan không....!
Thằng Vạn tụt xuống, vênh mặt kiêu hãnh ra về./.


Chiếc xe tang...!

-Hôm nay, đưa tang ông chú rể, cành đông Mễ Trì, Đài phát thanh bị Mỹ ném B52 năm nào, giờ có đại lộ Thăng Long chạy qua, có sân Mỹ Đình, có những nhà cao từng san sát...


Tiễn đưa người cũ,
Chợt nhớ cảnh xưa,
Bao nắng bao mưa
Hôm nay lần cuối...

Từng tấc đất xe tang lăn qua hôm nay, người nằm trên đã bao lần qua lại, quen dấu quen hơi... Vẫn đi qua nhưng lần này không bao giờ trở lại... Bước không gian và bước thời gian... khi còn sống thì khác nhau vì thời gian chỉ đi không lại, không gian thì có thể... lần cuối cùng này, tất cả chỉ đi...:sẽ không về...!

Chiếc xe tang

Sao vội vàng

Không dừng lại

Nơi cuối bãi

Chỗ đầu gầu

Trăng đêm thâu

Ngồi hóng mát ...


Nghiến sỏi cát

Chiếc xe tang

Vẫn vội vàng

Không dừng lại

Người con gái

Mới hôm nào

Khăn tay trao

Cười cúi mặt

Giờ héo hắt

Trong áo sô

Bước hư vô

Qua chốn cũ ...


Chiếc xe tang

Sao vội vàng

Không dừng lại

Con đường ấy

Bước bao nhiêu

Bỗng một chiều

Đưa lần cuối ...


Chiếc xe tang

Sao vội vàng

Không dừng lại...!

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

NHUỘM

Bờ tre nhuộm ánh nắng chiều
Nhuộm hồn ai dáng xiêu xiêu mái chùa
Nhuộm đời là nắng là mưa
Nhuộm hồn tôi...
Tiếng...
Chuông chùa..
Vắng em....!

Miếu làng vẫn thiêng 6 (Và hết)

Đã mua sắm đầy đủ, từ cái ăn cái mặc đến vật dụng trong nhà mà tiền tích lũy cứ ngày một nhiều, đủ, nó xây nhà. Ba gian nhà ngoài với một gian buồng, tường mười bổ trụ nhưng toàn gạch loại A chém quằn dao không vỡ, cột, xà, quá giang, dui, mè toàn gỗ xoan ngâm, đòn tay bằng vầu tự nó mua ngoài bến sông về ngâm.
Đến mái thì nó hết tiền, chẳng muốn vay mượn, nó lợp bằng rạ, không sao, hai chuyến hàng là đủ tiền mua ngói.
Vợ nó đẻ thêm một thằng, vậy là nhà nó có bốn thằng đàn ông. Đã đến lúc bắt hai thằng lớn làm việc, nó nghĩ thế, nhớ ngày xưa thèm đi thả bò nhưng nhà không có, nó tậu ngay đôi bê cho mỗi đứa trông một con.
Có bò rồi nhưng chưa có chuồng, cái hồi nhà trước đua ra làm bếp nay nhốt bò vào đấy, thế là lại không có chỗ đun nấu. Vợ nó còn yếu mà phải nấu cơm ngoài sân, gió lúc thổi chiều này lúc xoay chiều khác vất vả quá... Thế là quên mất cái mái ngói, nó lại quyết định làm bếp. Sẵn tiền sướng thật! thích gì làm ấy, chẳng cần kế hoạch hay tính toán gì... Nó đâu biết rằng, làm bếp là cái quyết định tệ hại nhất trong cuộc đời nó.
Hôm đào móng đã có mấy cụ già đến gàn.
-Cháu ơi...! Chỗ này là khu mộ của người Tàu, nên chuyển chỗ khác.... Sao mà buồng, bếp với chuồng bò lại liền nhau thế này..., đất nhà cháu còn rộng lắm cơ mà.
Thằng Đức ưa nịnh, nhất là từ độ có tiền, làm nhà, tậu bò..., nghe ca ngợi quen rồi, giờ thấy người góp ý nó chỉ thấy ngứa tai, Nó mang những chuyện ở Hà Nội, Móng Cái, bên Trung Quốc ra để giải thích cái công trình “Khép kín” văn minh..., được mấu câu, chẳng ai thuyết phục được ai, thằng Đức trở lại với thói quen ngày nào, nó đuổi cổ mấy “Thằng già” về với cái lẽ.
-Đất xã đã cho bố, bố thích làm ở đâu thì làm, đừng lằng nhằng...!
Đúng là “Giang sơn dễ chuyển, bản tính khó dời”, giá như mấy “Thằng già” kia còn nhớ cái đận nó ở trong miếu mà lựa lời nịnh nó, ca ngợi nó rồi hãy khuyên bảo thì chắc nó đã nghe, và như vậy đã chẳng nên chuyện..., già hay trẻ thì cũng là người cả thôi! Thích oai lắm cơ! Ra điều bề trên mà bắt bẻ thằng này thì hỏng rồi...! Khi nó đã điên tiết đuổi cổ ra khỏi nhà thì mọi sự không còn có thể làm lại được nữa.
Thằng Đức cứ đào, một sẻng, nó lấy được mươi cái bát mẫu với hai cái lọ đẹp lắm, bắt đầu thấy trờn trợn, hay là mấy thằng già nói đúng...? Nó vứt ra vườn cho trẻ con mang đi, dù nhà nó chả có cái bát nào đẹp thế... Hai sẻng! Chạm rồi...!
Kể đến đây, thằng Đức quay cái phần ngón cái còn lại như cái cuống quả cam trỏ xuống nền nhà.
-Em vét hết đất, lộ ra hai viên gạch cổ, mỗi viên bằng bốn viên này.
Nền Bệnh viên Xanh-Pôn khi đó vẫn nguyên từ thời Pháp, tức là viên gạch cổ trong chuyện thằng Đức có kích thước chừng 40 x 40 cm, vị chi hai viên có kích thước 40 x 80 cm, nếu là nắp mộ thì to lắm đây.
Chủ-thợ nhìn nhau chưa biết làm thế nào.
-Mẹ cha nó chứ! Phải đâu nó ở nông có phải đỡ, thế là công cốc từ sáng đến giờ!
Thằng Đức vớ cái Xà beng, tách hai hòn gạch rồi thọc xuống ngoáy thử, có cái gì lủng củng, bậy kênh một hòn lên, bên dưới đen xì, bọn thợ hoảng quá vứt cả cuốc thuổng chạy tóe loe. Thằng Đức cũng thấy ớn lạnh từ đầu đến chân, mồ hôi nó vã ra, không ổn rồi! Mấy “Thằng già” nói đúng rồi...! Mộ Tàu thật rồi...! Không dám ngang ngược hơn nữa, nó buộc phải dịch nền bếp ra chỗ khác.
Làm bếp xong, một chuyến hàng bình thường, chuyến thứ hai về, thằng Đức đeo vác lỉnh kỉnh những túi những hộp nặng nề leo ngược lên đê.
Hàng, quà đầy người, toàn những thứ quý hiếm nhưng tất cả đều phải tránh nơi rốn nó, chỗ có cái ruột tượng giả da căng phồng, leo dốc mà cứ phải ngửa người ra sau thì thật là khó, vì lùn nên nó cứ lặc lè từng bước.
Thằng Đức không thấy vất vả, trong đầu toàn những hình ảnh vợ con nó, mẹ nó, các cháu nó, ai nấy hân hoan nhận quà... leo đến đỉnh đê, đặt mấy cái hộp xuống, nó đứng thẳng, ưỡn ngực hít một hơi thật dài cho mùi cỏ, mùi lúa non ngấm khắp cơ thể, rồi nó nhìn về nhà.
Sao thế kia...? Mái nhà nó đâu rồi...? Sao mấy bụi tre lại vàng ươm thế kia...? Tai họa rồi...! Hình như cháy nhà...! Nó cứ lặc lè nửa đi nửa chạy, càng gần đến nhà sự thật càng rõ, những hộp những túi cứ rơi dần nhưng nó không còn quan tâm nữa...
 Há mồm, đứng như trời trồng giữa đống đổ nát, lâu đài tình yêu của nó cháy trụi. Những hồi nhà hồi bếp đen nhẻm như những bàn tay ma chỉ lên trời, bất giác nó nhìn theo những bàn tay ma ấy, chỉ có trời tháng bảy cao xanh trong vắt.
Không còn một cọng rạ nào, những cột những xà chảy dở nằm ngổn ngang, lớp than nứt ra mom như những bắp ngô khổng lồ bị nướng cháy.
Cô vợ nấu cơm trong bếp, loay hoay thế nào mà cháy, hoảng loạn, nó cứng họng không biết đường kêu cứu, cứ chạy ra ao múc nước đổ vào. Trời hanh, ba cái mái rơm cháy to và nhanh quá, khệ nệ xách xô nước từ ao vào con Tuyết thấy mái nhà đang cháy đùng đùng, lửa cao đến quá ngọn tre, tiếng vầu nổ đôm đốp như tiếng đạn phòng không, lá tre cũng cháy, nổ lép bép như chảo mỡ. Sực nhớ ra đứa nhỏ nằm ngủ trên nhà nó quẳng xô nước ào vào đạp cửa cứu con, khói và lửa hất nó nằm vật trên sân. May! Đúng vào lúc bà con kịp đến, lôi nó ra.
Phát hiện có cháy, tiếng người kêu truyền nhau í ới khắp làng
-Cha.a.y..áy! Ối làng nước ơi…i! Cháy nhà thằng Đức! Cha a .áy...!
Từ các ngõ người ta vội vã đổ về với đầy đủ thùng, chậu, gậy gộc, câu liêm, vừa chạy vừa vừa kêu gào, người không kêu thì gõ chậu gõ thùng, có người ghé ù xuống ao bên đường nhúng cái chăn chiên ào tới, tiếng tù và rúc, tiếng kẻng của Hợp tác xã, cả tiếng trống của mấy nhà thờ họ đập liên hồi, giục giã.
Muộn mất rồi...! Đám người ấy chỉ được mỗi một việc là lôi con Tuyết ra ao, vã nước vào mặt cho nó tỉnh lại. Lửa cháy to quá, mái đã xụp xuống, bức tường hậu xây theo kiểu “thượng thu, hạ thách” cũng đổ xập xuống nền nhà... Không may vì nhà nó ở biệt lập nên khi người ta phát hiện thì đã quá muộn, nhưng cũng vì thế mà đám cháy không loang rộng vào xóm... Lại may!
Đôi bê chết thui trong chuồng, thằng con mới đầy tháng vài hôm bị lửa rơm thiêu cháy, rồi những dui, mè, kèo, cột cùng cái giường đốt tiếp, cuối cùng là cái tường hậu đè lên, không thể tìm được một mảnh xương.
Lại như ngày nào, người ta giúp thằng Đức dọn đống đổ nát, số tiền trong ruột tượng thừa sức xây lại cái tường hậu, thế rồi người tấm cót, tấm liếp, kẻ cái nong bục cạp cái nia rách, khúc gỗ, cây tre, thằng Đức gếch gác vá víu lấy chỗ cho vợ con che mưa che nắng rồi lại xuống tàu.
Vài chuyến, nó đã làm lại cả nhà cả bếp, nhưng, chỉ vài tháng sau, họa lại dáng xuống nhà nó.
Con Tuyết đi làm cho nhà máy gạch, việc của nó là phụ xếp gạch vào lò,(Thằng Đức phải tốn ít tiền cho lão Giám đốc để con vợ được làm việc ở nơi mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu ấy). Thế mà chả biết dửng mỡ thế nào nó lại xuống đú đởm với mấy đứa chế biến, chúng nó nhờ và con Tuyết đóng điện, cả một cục lửa xanh lè, bay ra từ cái cầu dao, ôm lấy ngực nó. Bỏng nặng lắm, thằng Đức phải bỏ hai chuyến hàng để nuôi vợ nằm viện.
Có lẽ sau những cú sốc lớn, con Tuyết đổi nết chăng?
Từ lúc nghèo khó đến khá giả chẳng bao giờ nó cãi chồng nửa lời, thế mà đêm ấy, trước ngày thằng Đức xuống tàu, đúng vào tiết Đại hàn, con Tuyết cứ nằm đờ trên gường chẳng nói chẳng rằng, mắt mở trừng trừng như tìm cái gì trên nóc nhà, hay là nó muốn...? Thằng Đức kéo vợ đến lần thứ ba thì con tuyết xoay hẳn người, úp mặt vào tường.
Thương vợ, thằng Đức không quấy rầy nữa nhưng tinh mơ tỉnh dậy, ngó đồng hồ đã hơn năm giờ mà vợ nó vẫn không nhúc nhích. Mọi khi, giờ này, hành trang của nó đã đầy đủ, vợ nó khẽ gọi rồi ngồi nhìn nó nhá cháy cơm nếp, khoác cái túi dết lên vai, tay cầm mo cơm nếp, bao giờ nó cũng tiễn chồng ra tận cổng, có khi còn bắt chiếc phim tây nghịch nhau vài cái, chờ cho chồng đi khuất mới chịu vào với con.
Có lẽ, cũng vì những nhẽ ấy mà chồng nó tránh được cám dỗ chăng? Thế mà hôm nay no gỉở trò. Thằng Đức lay gọi, con Tuyết vùng vằng kéo chăn trùm kín đầu không nói không rằng, điên tiết, thằng đức tát vào mông vợ một cái thật lực.
-Đ.mẹ mày...! Giở trò à...! Đã thế, phen này ông đi Hà Nội một tháng...
Tức giận thì nói thế thôi, ý nó dọa vợ sẽ ở lại Hà Nội ăn chơi cho hết tiền như đã từng kể cho vợ nghe về mấy đứa trên tàu mỗi khi vợ chồng chúng cãi nhau, nó biết đâu rằng lời nói ấy ẩn chứa điềm gở tày trời.
Thằng Đức lục đục lấy gạo thổi cơm, theo thói quen thôi chứ nó thiếu gì tiền ăn quà, nghe bố to tiếng, hai đứa trẻ tỉnh giấc xộc xệch xuống bếp ngồi hai bên trong ánh lửa bập bùng.
Trời rét buốt xương, có hai đứa trẻ, thằng bố cũng đỡ bực mình và như nguôi cơn giận vợ. Lá thông chúng nó quét từ mấy hôm trước khô giòn, cháy nỏ, phát ra những tiếng lép bép vui tai.
Thằng Đức đang băn khoăn với câu hỏi tại sao vợ nó lại như thế...? Nó có điều gì khuất tất đâu...? Thôi! Mọi việc rồi sẽ đâu vào đó, rồi thì chuyến sau sẽ lại có cơm nếp lạc, muối vừng, ruốc thịt mang đi, chuyến này đành tốn vậy, nó tặc lưỡi, lách tay qua thằng con, vơ một nắm lá to cho vào bếp.
-Đoàng!
Như có hàng ngàn hạt cát cháy đỏ bắn vào mặt nó, bật dậy theo phản xạ, tay lành ôm tay đau, nó nháo nhào chạy ra, đến cổng nó mới nghe thấy tiếng thét gào của hai đứa con, loạng quạng quay lại, mặt hai đứa be bét máu, thằng Đức choáng váng đổ vật ra sân...
Người ta đưa mấy bố con nó đi bệnh viện, may, bọn trẻ không sao, được về ngay. Còn nó được chuyển cấp tốc lên Bệnh viên Xanh-Pôn nhưng cũng chẳng giải quyết được gì.
Cái kíp mìn nổ ngay trên tay nó, cố gắng lắm Bác sỹ trực cũng chỉ có thể giữ được cái bàn tay như quả cam ngô thế này, bọn trẻ con đã quét lá thông trên đồi, ngay bên tường một doanh trại bộ đội.
Kể đến đấy cũng là lúc công việc của tôi hoàn tất, cắt ngang lời nó, tôi hẹn đêm nay trực, nếu rảnh sẽ vào nghe tiếp.
Câu chuyện của thằng bệnh nhân cứ làm tôi băn khoăn, giá như không có ngôi mộ ấy chắc gì nhà nó đã thoát nạn, cẩu thả như thế cơ mà! Nhưng:
-Tại sao họa lại đến dồn dập sau vụ ngôi mộ mà trước đó thì không?
-Việc ra ở miếu bắt được nhiều cua ốc có liên quan gì đến thời tiết không? Sau lụt chẳng hạn?
-Họa phúc có thể đến ngẫu nhiên hay theo quy luật nhân-quả?
-Một người chăm chỉ cẩn trọng, biết tính toán thì thế nào cũng có ngày hưởng phúc. Một kẻ cẩu thả, vô tính toán như thằng Đức thì họa đến chỉ là sớm hay muộn, nhưng tại sao từ ngày ra ở miếu nhà nó toàn gặp may thế mà từ ngày gặp ngôi mộ họa lại liên tiếp giáng xuống thế...?
Tối hôm ấy, khoảng mười giờ, vãn việc, tôi đi qua buồng nó, đèn tắt tối om, cánh cửa vẫn hé mở, thò đầu vào, hơi người nồng nặc. Hơn hai chục mét vuông mà kê đến sáu giường, người nhà nằm ngổn ngang dưới gầm, lối đi, tiếng người ngáy đều đều như ao chuôm tháng ba... Chả nhẽ nửa đêm Bác sỹ gọi bệnh nhân dậy mà nghe chuyện ma, tôi bỏ về phòng.
Sáng hôm sau, vợ chồng thằng Đức xuống tôi sớm, tưởng nó nhắc việc đêm qua không vào nghe nốt, tôi chặn trước.
-Hôm qua bận, tôi vào thì các cậu đã ngủ, không tiện gọi...
Cô vợ ngẩn người.
-Thế ạ...! Giời ơi...! Giá bác gọi có phải hay không!
Hình như có chuyện gì, chúng nó trách tôi thật a.
-Sao vậy? Để các cậu ngủ, bọn mình thức khuya quen rồi chứ …
Mặt thằng chồng lì ra, cái lì lợm của kẻ bị dồn vào chân tường không còn cần gì nữa. Nó trình bày.
-Bác ạ! Hôm qua, lúc em nói chuyện với các bác, chúng em còn hai cái áo lông với bảy chỉ vàng. Đêm, trộm nó lấy nốt rồi, giờ đây chúng em mới thật sự trắng tay...!
Trời ơi! Sao bọn này ẩu thế! Áo lông Đức quý lắm, bọn tôi mơ cũng chẳng được. Ra trường đã vài năm vợ chồng tôi chẳng có lấy một chỉ cất tủ, thế mà nó mất cả hai cái áo lông với những bảy chỉ vàng....! Thay vì động viên tôi lại đờ người ra mà tiếc cho chúng nó, mặt thằng Đức đanh lại.
-Phen này về, em phải đào lên xem mặt mũi nó thế nào, sao mà nó hại nhà em đến thế...!
Tôi chẳng gàn nó một câu nào, mình không mất mà còn xót nữa là, vả lại, tôi biết, với những thằng như nó, có gàn cũng chả ăn thua gì.... Thôi! Kệ nó!./.