Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Miếu làng vẫn thiêng 5

Công việc kiếm gạo nuôi con của chúng nó vẫn thuận lợi thế, người ta bảo “Hỷ bất trùng lai” có khi đếch đúng! Từ ngày ra ở miếu nhà nó toàn gặp may. Cuối năm ấy, ông cậu cán bộ từ bên Hà Nội về ăn giỗ bố nó.
Người làm to có khác, từ lúc có ông, đám giỗ tưng bừng hẳn lên, người ta tíu tít, dắt con dắt cháu ra chào, giới thiệu với ông, nét mặt ông rạng rỡ, hết bắt tay người này lại xoa đầu đứa khác, quay sang chị, ông thắc mắc.
-Từ sáng chả thấy thằng Đức đâu nhỉ!
Bà chị thực tình kể lại, rằng nó hỗn láo thế nào, bỏ đi ra sao, rồi biệt từ ngày ấy, xóm trên xóm dưới mà tuyệt nhiên chẳng thấy nó thèm về xem mẹ nó sống chết thế nào, lắng nghe, ông trầm ngâm không nói. Cơm rượu xong, ông ra thăm nó.
Người làm nhà nước đến cán bộ to cũng khác, ông ôn tồn hỏi han, tự tay mở kiểm tra từ thạp gạo, liễn mỡ, hũ tương đến quần áo lũ trẻ..., rồi ông khen ngợi vợ chồng nó thế là “Cơ bản”, khen các cháu ngoan, khỏe mạnh, ông cho mỗi đứa năm hào, xoa đầu nhắc chúng phải biết thương xót bố mẹ, ông nhắc đến công lao của vợ chồng thằng Đức với lũ trẻ trước, rồi mới nhắc nhở vợ chồng nó những vất vả nghìn lần mà chị ông, mẹ nó đã trải qua để nuôi hai anh em nó, hai đứa cắm mặt xuống đất, những giọt nước lăn dài từ mắt con Tuyết.
-Thôi...! Các cháu biết lắng nghe thế là cậu mừng lắm rồi...! Thương mẹ..., nể cậu ..., chúng mày vào thắp cho bố nén hương rồi uống với cậu chén rượu, có thế cậu mới yên tâm về Hà Nội công tác được.
Thằng Đức đưa mắt nhìn vợ, con tuyết vội vàng đạp xe đi, nó mang về đủ thứ, đồ lễ, quà cho mẹ cho anh, thằng Đức ngó qua, hạnh phúc dâng tràn trong ánh mắt nó. Tối ấy nhà nó vui vẻ, đêm ấy, hai cậu cháu ngồi ngoài sân nói chuyện rất khuya, ông cậu bảo.
-Mày về viết cái đơn, tao xin việc cho mà làm, chứ mò cua bắt ốc mãi à?
-Cậu xin được thì cậu viết, cháu có biết chữ đéo đâu...!
Tinh mơ hôm sau, ông cậu ra nhà cho nó nguệch ngoạc ký vào đơn.
Đúng là “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, thực ra, cậu nó chỉ làm cái chân long tong ở Văn phòng đảng ủy hay công đoàn gì đó thuộc Bộ Giao thông vận tải, thế mà cầm mỗi lá đơn đi, hai tuần sau người ta gọi nó đi làm.
Thằng Đức làm cho Công ty vận tải pha sông-biển, cứ hai tuần một lần, cái ca-nô chạy từ đâu không biết đến đón nó ở bờ đê, xuôi Hà Nội rồi khi thì Hải Phòng, khi thì Quảng Ninh, có khi sang tận Trung Quốc, trả hàng rồi lại nhận hàng..., cuối cùng, người ta thả nó ở quãng đê ấy cho nó về hú hý với vợ con một tuần trước khi xuống tàu lần tiếp.
 Bờ đê chỉ cách nhà nó có một cánh đồng chừng ngót cây số, lần nào leo đến đỉnh con đê nó cũ quay về nhìn lại ngôi nhà nơi có vợ con nó đang đợi, nơi những một tuần nữa nó mới lại được nằm giang chân giang tay trên cái phản cho hai đứa con vầy vò..., nơi tối tối vợ nó cứ hị hụi dọn dẹp và nó cứ phải nằm chờ cho đến khi hai thằng ranh yên giấc...
Công việc của nó là dọn dẹp, dọn hàng, dọn vệ sinh trên tàu, dọn toa lét, dọn bếp, rửa bát... Khi tàu cặp bến, nó nhanh nhảu nhảy lên bờ đón cái dây thừng to tướng buộc vào cọc neo, những việc không phải của nó nhưng nó thích vì có vẻ oai hơn những việc dọn dẹp.
Thời bao cấp nhiều thứ bị cấm lắm, mà phàm cái gì bị cấm lại là những thứ chúng nó dễ kiếm nhất. Lương đã là cao nhưng sau mỗi chuyến, Trưởng tàu chia cho nó cục tiền to lắm, gọi là tiền “Kế hoạch ba”, từ bé đến giờ, nó chưa bao giờ nhìn thấy nhiều tiền đến thế, cầm tiền mà cứ ngỡ là mơ. Rồi “Sống lâu, mèo già hóa cáo”, nó cũng nhận hàng riêng, người ta vác mấy cái hộp xuống tận tàu cho nó, đến bến lại có người xuống tận tàu mang đi rồi trả nó tiền, còn nhiều hơn cả “kế hoạch ba”.
Nhiều tiền, chúng nó hư, tàu neo bến đợi hàng, chúng đánh bài xuốt ngày, đến bữa gọi toàn đồ ngon vật lạ. Thằng Đức mới chỉ mấy lần được uống bia cỏ, thứ bia đỏ như nước đái bò, bọt cũng như nước đái bò, vừa to vừa dễ vỡ, thế mà ở đây bữa nào chúng nó cũng uống hàng thùng bia lon, thằng Đức thứ bia có bọt mịn như bông, uống vào, một cảm giác mát, tê, thơm chạy đến tận ruột chứ không cay, đắng như bia cỏ, một dải bọt trắng mịn dính hai bên mép. ngon thế nhưng thằng Đức không ... thích, nó xót ruột.
Đêm, bọn gái làm tiền mò xuống tận tàu ve vãn chúng nó, tiếng nghịch nhau chí chóe, tiếng con gái kỳ kèo xin thêm tiền khiến thằng Đức không ngủ được, có cái gì cứ rạo rực trong người khiến nó nhớ vợ, thương vợ hơn, nó cũng thinh thích, muốn muốn, nhưng nó sợ, có cuc gì dồn ứ, chẹn lấy cổ khiến nó buồn nôn, nghe nói bọn này bẩn lắm, bệnh lậu hay giang mai ghê gớm lắm...!
Tinh mơ ngày xuống tàu, vợ nó dậy sớm nấu một nồi cơm nếp lạc to tướng, đổ ra cái rá, hong khô rồi nén vào cái mo cau thật chặt, từng ngăn, từng ngăn nom như cái chuỗi xúc xích khổng lồ. Mỗi bữa, thằng Đức cắt một khoanh ăn với ruốc cũng do tự tay vợ nó làm..., không nhậu nhẹt với bọn kia không hẳn vì nó tiếc tiền mà vì vắng vợ vắng con nó không nuốt được những của ngon vật lạ.

Ngày ở nhà, nó đạp xe ra tận chợ Huyện mang về, hôm thì đôi vịt kêu quàng quạc, hôm cái chân giò to tướng, lúc cả một cái đùi chó. Thi thoảng nó cho vợ con vào mời mẹ, anh chị và các cháu, những hôm ấy cả nhà nó vui như tết. 

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

MIẾU LÀNG VẪN THIÊNG 4

Trong kháng chiến chống Mỹ cái miếu biến thành kho, lúc của quân đội chứa súng ống đạn dược, lúc của ngành thương nghiệp chứa nước mắm, xì dầu, muối, mắm tôm. Chẳng hiểu do không được thờ cúng nên hết thiêng hay Ngài sợ cái mùi mắm tôm đến mức biến đi đâu mất mà đồ thờ mất sạch sành sanh, đến mấy hòn bi ve trong mắt hai con Nghê cũng bị đục lấy đi, nhưng tuyệt nhiên không thấy ai rồ dại như con vợ thằng trộm ngày xưa nữa!
Những năm cuối 70 đầu 80, người già trong làng mới dần dần khôi phục lại, thoạt đầu, ai đó đặt lên cái bát hương rồi thi thoảng người ta thấy có mùi hương trầm tỏa ra từ miếu, rồi đĩa hoa, chén nước, giờ thì đã kha khá nhưng toàn là đồ gốm rẻ tiền và cũng chỉ đủ bày ở bệ thờ trong cùng.
Thằng Đức vớ được cái miếu như kẻ chết đuối vớ được cọc, phẩy qua cái bệ thờ thấp nhất là có chỗ nằm cho hai đứa con, gian bên tả làm bếp, bên hữu là buồng hạnh phúc của vợ chồng nó, toàn gạch hoa nhẵn thín mát lịm, chưa bao giờ nó dám nghĩ đến. Không tiếc gì gian buồng nhà nó nữa và cùng chẳng ân hận, thậm chí thằng Đức còn tự hào với cái quyết định bỏ đi của mình.
Lạ lắm! Từ ngày ra đây chẳng bao giờ chúng nó vác giỏ về không, hình như cua ốc cũng dễ dãi hơn với chúng, hôm nào cũng đầy giỏ. Nuôi gà chẳng thấy chết toi chết rù như người ta, hai đứa con thì cứ như lợn bột, rủ rỉ ăn, rủ rỉ chơi, rủ rỉ lớn, vợ chồng nó chẳng mơ gì hơn nữa...
Thoạt đầu, những người già trong làng khó chịu, có người nói đổng.
-Hết thằng này lại đến thằng khác phá miếu! Cái làng này đến lúc mạt hạng rồi!
 Biết thằng Đức cùn nên họ chỉ ra vờ thăm hỏi, thắp hương rồi về, người ta tụ tập bàn tính, ý kiến thì rất nhiều, vi như.
-Không thể để bọn trẻ con ngủ trên ban thờ được!
-Đêm đêm, vợ chồng nó ấy nhau ngay trong miếu thì còn ra cái gì nữa!
Nhưng giải pháp thì không có, chẳng ai dám dây với nó, vả lại cũng là đường cùng, chẳng bao giờ nó quay về gian buồng địa chủ kia nữa đâu, bàn đi tính lại, họ cử ba ông già nhất, uy tín nhất ra góp ý với vợ chồng nó về cách sinh hoạt. Mới ba câu, nó đã trợn mắt đuổi cổ mấy “Thằng già”.
-Từ nay đây là nhà tao...! Thằng nào qua cổng mà không hỏi ông đánh cho què chân...!
Ba lão già mặt tái xanh tái tử, lẩy bẩy dắt nhau về, càng xa cái miều, à quên! Càng xa nhà nó bao nhiêu, càng đỡ sợ bấy nhiêu và cái tức cũng tăng lên bấy nhiêu, họ lại họp, chả nhẽ ngần này người già, đại diện cho các họ tộc trong làng lại thua một thằng mất dạy...!
Nhưng mà làm gì được nó! Thôi! Chỉ còn nước cạy nhờ chính quyền, một cái đơn được thảo vội vàng nhưng cũng đầy đủ lý lẽ, nào là chốn linh thiêng của làng, nào là tài sản xã hội chủ nghĩa, nào là lệ làng phép nước… tất cả toát lên một ý không thể để thằng ranh cướp trắng thế được.
Rồi ba ông lão tội nghiệp chống gậy lên xã, Chủ tịch, Bí thư đi vắng cả, tiếp họ là thằng thư ký, cái thằng khôn lỏi nhất cả xã này, một mình nó làm thư ký đã ba đời Chủ tịch, hai đời Bi thư, quan nào mới lên chả dẹp bộ máy cũ, dựng chân tay mới bằng người nhà người phe của mình, thế mà nó vẫn tồn tại, đủ biết nó khôn đến mức nào...! Thằng này luôn có thái độ lịch thiệp với tất cả mọi người, quần áo trên người nó không thể gọi là sang trọng nhưng cũng không thể coi là xoàng xĩnh, vừa đủ để người ta phải coi nó là “Giản dị” nhưng cũng vừa đủ để bọn nông dân kiết xác phải kính nể, khiếp sợ.
Miệng tươi cười, thằng Thư ký đưa cả hai tay đón lá đơn từ ông cụ, mời họ ngồi, đưa tận tay từng chén nước rồi nó vừa vờ lướt đọc, vừa như lắng nghe lời trình bày. Kỹ năng để giữ nét mặt khiến người ta không biết tươi hay nghiêm không phải dễ nhưng muốn làm cán bộ thì phải rèn cho kỳ được và nó là một trong những thằng đã thành công và từ khi thành công thì hai con mắt và cái lỗ miệng hiếm khi đồng điệu. Cái miệng cười nhếch như muốn bảo người ta rằng: “Chẳng có gì đâu..., tôi là người có thể tin được mà, ông bà cứ nói đi...!”. Miệng cười thì mắt người ta cũng phải cười, lông mày, lông mi phải đưa lên và ánh mắt ... khó mô tả lắm nhưng nhìn là biết..., cái cửa sổ tâm hồn ấy cũng... phải cười, nhưng các lông của thằng này lại .. ngang, ánh mắt lại như muốn bảo: “Liệu hồn...!”.
Vẫn giữ nguyên nụ cười trên môi (Không vẩu, nhưng chẳng hiểu lúc ngủ hay đến khi chết thằng này có thôi cười không nhỉ?) nó ôn tồn.
-Dạ! các cụ dạy chí phải! Cả làng bao đời thờ cúng, coi là chỗ tôn nghiêm, linh thiêng bao nhiêu thì cháu không biết và không giám nói, nhưng để thế sao tiện. Có điều ..., cháu chỉ là thư ký, không có quyền hành gì, các cụ cứ để đơn đây cháu sẽ báo cáo Đảng ủy, Ủy ban và cả bên Mặt trận nữa, Chính quyền đã ra tay thì khó mấy cũng phải xong...
Ra oai một cách khôn khéo và cũng để tống mấy lão già kia về thì nó nói thế thôi chứ nó cũng ngán thằng Đức lắm, lại rót nước cho từng cụ, thằng thư ký đổi giọng, tặc lưỡi.
-Kể ..., cũng bí cho nhà nó, có mỗi giam buồng mà hai cặp vợ chồng..., mạnh một cái là cả nhà cùng biết...
Như sực nhớ điều gì, thằng thư ký quên mất là mình…”Không có quyền hành gì” lại đổi giọng, thoạt đầu là giọng bức xúc cùng với nguyên đơn rồi giọng thông cảm với bị đơn, bây giờ là giọng chậm chắc của ông quan xử kiện.
-Nhưng chúng tôi thấy! Đất miếu còn nhiều lắm, để giữ tôn nghiêm trong miếu sao các cụ không cho nó miếng đất làm nhà...? Con cháu trong làng cả...!
Ừ nhỉ...! Sáu con mắt nhìn nhau. Sao ... không ai nghĩ ra nhỉ! Thằng Đức nóng nảy, hung hãn nhưng khéo nịnh một tý có khi nó lại làm Từ gác miếu cho luôn.
Họ vui vẻ ra về...! Lại họp, nhưng với tinh thần hoàn toàn khác, sự hằn học, tức giận đã được thay bằng không khí yêu thương đùm bọc. Không có ai phản đối, trước hết vì chẳng động đến lợi ích của ai, thứ hai vì ai cũng sợ nó, nhưng thằng kia lấy gì mà làm nhà...? Bao giờ nó mới làm ...? Thế là kẻ dăm cây tre, người ôm rơm, bó rạ, hai cây xoan của miếu được hạ xuống làm cột, cả làng tưng bừng góp của, góp công làm nhà cho vợ chồng thằng Đức.
Kể ra, bỏ cái nền đá hoa tây cũng tiếc nhưng người ta nhiệt tình tử tế, lại tỏ ra tôn trọng nên thằng Đức vui vẻ ngay, thế là từ đó nó có nhà chính thức, với đầy đủ giấy tờ do chính quyền xã cấp hẳn hoi. Thằng thư ký với hai lão Bí thư, Chủ tịch cũng đến, chẳng cho gì, chẳng thò tay vào việc gì, chỉ ngó ngó nghiêng nghiêng, chỉ chỉ trỏ trỏ, chúng nói ít nhưng cái mặt của chúng biết nói và nói nhiều, dân làng thì hiểu rằng.
-Đấy nhé! Không có chúng ông thì mất chỗ thờ nhé!
Còn thằng Đức, có ngu mấy nó cũng phải hiểu rằng.

-Đấy nhé! Ông lo nhà lo cửa cho mày đấy nhé, từ rày phải nể ông tý nhé!

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

MIẾU LÀNG VẪN THIÊNG! 3

Kể từ đó, thằng Đức không dám ra những cái lệnh kiểu như thế nữa, nhưng hôm nay nó tức quá, chắc là quên mất. Con Tuyết lặng lẽ đứng dậy vào buồng thu dọn đồ đạc vào mấy cái đẫy, bao tải, hai đứa trẻ ngơ ngác giúp mẹ. Thằng Đức không định thế nhưng nó là kẻ không dễ nuốt lời..., chúng nó đi thật.
Chỉ có con Tuyết nhìn trộm mẹ chồng một cái rồi cả nhà nó bồng bế nhau qua cổng, bà Thanh nằm vật ra nhà...
Thằng Đức hùng hổ dắt vợ con ra khỏi nhà nhưng càng gần đến đầu làng thì bước chân nó càng chậm lại, nét mặt giãn dần ra, trùng xuống, từ giận dữ sang đăm chiêu… Đi đâu...? Trời thì đã nhá nhem! Quay lại thì dứt khoát là không, nhưng đi đâu bây giờ...?
Cái “Đầu tầu” đứng lại, cả đoàn dừng theo. Cái đẫy trên vai trơn quá, cứ định tụt khỏi vai mà hai tay nó phải giữ cái bao tải to tướng trên đầu, đành phải hạ bao xuống, thằng Đức cúi đầu, hạ thấp lưng cho cái bao đựng nồi xoong rơi nhẹ xuống đất, đoạn nó đứng dậy, toan xốc lại hai cái đẫy trên vai.
-Đây rồi..!
Nó reo lên sung sướng, vợ nó cũng đang băn khoăn như nó, các con nó thì đang sợ, chúng sợ đêm nay phải ngủ ngoài đồng như những người chết, tiếng reo của cái đầu tàu khiến cả bọn như trút được ghánh nặng, phấn chấn hẳn lên.
Cái miếu làng lù lù trước mặt. Chút ánh sáng yếu ớt từ nền trời phía tây hắt lên từ ao đình khiến cái miếu huyền ảo như cung điện trong mơ. Thằng Đức đã ngủ ở đây mấy bận rồi, lần thì hóng mát ngủ quên, lần thì theo chúng bạn ăn trộm bưởi, trộm ổi mang ra đây đánh chén không về nữa.
Cái miếu ở đầu làng, khuất dưới mấy bụi tre, đón gió đồng mát rượi, chẳng biết người ta xây từ bao giờ nhưng đẹp phết, tường gạch, mái ngói ta, thời gian và những năm tháng bỏ hoang nhuộm một màu nâu sám, cột, xà, đều bằng Lim mốc trắng nhưng nửa dưới những cái cột, nơi người ta tựa vào ngồi nghỉ hay bọn trẻ nô đùa trèo lên tụt xuống thì đen và bóng nhẫy. Nền lát gạch men Tây, choáng gần hết gian giữa là cái ban thờ. Cái ban thờ cũng được chia làm ba ô, cao ở trong, thấp ở giữa rồi lại cao hơn một tí ở ngoài cùng.
Nghe nói ngày xưa trên ban thờ có nhiều của quý lắm, cái ngai thờ mạ vàng thật, đôi hạc đồng đen đứng chầu hai bên. Ở giữa, nơi thấp xuống người ta đặt một cái nửa bàn nửa mâm cũng sơn son thếp vàng, đó là nơi bày lễ vật. Tầng ngoài cùng là lỉnh kỉnh những đỉnh, chân nến, bát hương, lọ cắm hoa…toàn bằng đồng cả. Mỗi gian bên cũng có một ban thờ nhỏ. Cái sàn gạch nem là nơi ăn cỗ và ban nhạc phục vụ nghi lễ, cái sân gạch chừng ba chục mét vuông cũng là nơi cúng lễ, nhảy đồng và ăn cỗ. Cái sân không phải hình chữ nhật mà cạnh ngoài của nó cong ra theo hình bán nguyệt, giới hạn bởi cái tường cao đến hơn hai mét, chính giữa là hai trụ cổng cao vút, trên là hai con Nghê quay mặt ra ngoài, há mồm như sủa lên trời cao, đưới là hoa văn loằng ngoằng cùng bốn mặt câu đối, chẳng ai biết là gì.
Miếu thiêng lắm! ngày xửa ngày xưa đã có thằng trộm ở tận đâu lấy đi cái ngai mạ vàng, ngay ngày hôm sau vợ nó phát rồ phát dại, trèo cả lên bàn thờ, rít thuốc lào sòng sọc thở ra đằng mồm đằng mũi, uống rượu cả bát, uống bát nào đập bát ấy, chỉ tay vào mặt chồng mà quát, đặc giọng đàn ông.
-Khôn hồn thì mang trả ông ngay! Nếu không, đêm nay ông bóp mũi cả nhà mày!
Thằng trộm sợ quá vội vàng mang trả, về đến nhà thấy cô vợ nằm ngủ, ngỡ Ngài say rượu nó chắp tay đứng bên hầu hạ. Lạ thay, cô nàng tỉnh giấc và không hề biết gì về những hành động, lời nói vừa mới của mình, những công việc thường nhật thì vẫn nhớ như in. Từ đó, trộm cướp chỉ vào tá túc chứ không đứa nào giám tơ hào vật gì của miếu. Có nhà ngủ dậy thấy mất bò vội vàng ra cúng, xin đài ngài bảo chưa mất, y như rằng tối hôm sau bò tự mò về, chỉ mất mỗi cái thừng cùng một vết thương ở mũi, nơi cái thừng lẽ ra phải đính vào đó, chắc Ngài đã sui nó giật sẹo thoát về. Có người ốm liệt giường liệt chiếu, thuốc men chạy chữa mãi không khỏi thế mà chỉ sửa cái lễ thường rồi vợ con ra tổng vệ sinh khuôn viên miếu là lại cày bừa phăng phăng.
Đấy là các cụ trong làng kể thế chứ cái miếu bị phá coi như hết từ lâu rồi. Sau cách mạng tháng tám thành công, vì ở đầu làng nên nó biến thành trạm gác của bọn dân quân du kích. Người ta bài trừ mê tín dị đoan, không ai được ra cúng lễ nữa, tất cả những “Tàn dư” của chế độ cũ phải được loại bỏ khỏi đời sống dân chúng. Dân ta đã được độc lập tự do, người cày đã có ruộng, khó khăn gì thì chính phủ Việt nam dân chủ cộng hòa cùng với sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em cũng sẽ lo được hết, không cần cúng bái nữa...

Lâu lâu lại có một thằng cán bộ tăng cường về làng, bọn này có quê khác nhau, hình hài cũng khác nhau nhưng chúng giống nhau ở một điểm, hễ mở mồm ra là “Mác xít Lê nin nít” là “Các Mác-Ăng ghen-Mao Trạch Đông” là “Duy vật biện chứng”, là “Chủ nghĩa cộng sản-thế giới đại đồng”. Bà con không ai hiểu gì nhưng chúng nó ăn mặc có vẻ sạch sẽ hơn bọn cán bộ làng xã, vậy chắc là chúng nó nói đúng. Nghĩ thế nên người ta theo chứ có biết gì đâu, nhưng có một điều cả làng cùng biết, đó là, đồ cúng đồ thờ của miếu cứ mất dần sau mỗi lần thay cán bộ. Đứa nào mà to gan thế nhỉ ...? Đến trộm cướp còn phải sợ cơ mà...! Chắc cái thằng ấy phải có bản lĩnh cao hơn trộm cướp cả nghìn lần ...!

NGHIÊNG...!

Tóc xõa... em nghiêng đầu tránh mắt
Nụ cười nghiêng, dáng bước cũng nghiêng nghiêng
Anh chết lặng nghiêng đường chiều bóng đổ
Mái nhà nghiêng...
Mặt đất bỗng chao nghiêng!

MIẾU LÀNG VẪN THIÊNG 2

Con Tuyết là đứa nết na ngoan ngoãn, đi thả bò, nó tranh thủ cắt cỏ chứ không bao giờ tham gia vào những trò nghịch ngợn của lũ trẻ. Một hôm, cắt được nhiều quá, con bé vừa dắt bò vừa lặc lè gánh cỏ, trời sắp tối hẳn, con bò cứ như một thằng nghịch tặc, chỗ đường trơn thì nó cứ kéo cô chủ xềnh xệch, được đoạn đường khô ráo, đang đánh tay giữ nhịp rảo bước thì nó lại đứng ì ra, hết gặm cố mấy miếng lại đái, hết đái lại ỉa, cô chủ cứ phải è cổ đứng chờ. Con bờ thửa* dẫn lên mương phải qua hồ lò gạch, đó là đoạn khó nhất, đất lở xuống hồ, người và trâu bò dấm xéo. Dễ đến mươi mét, chẳng còn có thể gọi là đường được nữa, lô nhô những mô đất thấp cao trơn tuột, quanh nhưng mô ấy là bùn nhão nhoét, đi không còn khó nữa là gánh nặng.
Cô bé đang bấm chân dò từng bước, con bò dường như cũng hiểu được sự khó khăn của cô chủ, nó không kéo nữa nhưng mà đi chậm thế này nên lũ ruồi cứ thi nhau vo ve rồi đốt vào vai, vào mang tai nó, cái đuôi, hai cái tai quạt liên hồi mà chả tác dụng gì, không thể chịu được nữa, con bò lắc mạnh cái đầu với hy vọng dùng sừng tấn công lũ ăn bám. Sợi dây thừng kéo cả cô chủ cùng gánh cỏ lăn ùm xuống hồ... Đúng là “Ngu như bò”! Nó sợ! Nó biết lỗi, nhưng thay vì đứng yên một chỗ nó lại chạy lồng lên mương rồi tế thẳng. Người ướt..., gánh cỏ vỡ nổi lềnh bềnh..., bò chạy mất..., cái chất trẻ con còn lại của cô gái mười sáu bật lên thành tiếng khóc.
Không biết là may hay rủi, thằng Đức đang ngụp lặn mò trai gần đấy, nó lặng lẽ vớt cỏ mà chẳng thèm nói với cô một lời, vớt hết, chỉ tay về hướng con bò nói cộc lốc.
-Không mất đâu...! Nó tự về...!
Thấy cô gái lập cập định xếp cỏ vào gánh, nó lại buông một câu như ra lệnh.
-Để đấy...! Ướt...!                
Chạy về góc hồ, nó trở lại với cái áo cáu bẩn trên tay, vẫn chẳng nói gì nó định khoác cái áo lên vai đứa con gái đang run cầm cập.
Con Tuyết ý tứ đón cái áo và hai bàn tay chúng chạm vào nhau... hình như có một luồng điện truyền qua làm cả hai đứa sững sờ. Cái điện gì rất lạ, nó làm con Tuyết đang rét run cầm cập bỗng thấy nóng bừng lên má, còn thằng Đức..., đang hăng hái hoạt bát là thế bỗng đờ người, lúng túng, run rẩy....
Cỏ đã rich bớt nước, thằng Đức lặng lẽ xếp vào quang, đưa cho cô cái giỏ, nó chỉ nói được mỗi một tiếng.
-Về...!
Rồi ghé vai nhấc gánh cỏ, nó bước từng bước chắc nịch qua từng mô đất trơn trượt, gánh cỏ ướt nặng là thế lại đu đưa theo từng bước nhưng hình như chả làm gì được cái thằng cục mịnh lực điền.
Con Tuyết ngoan ngoãn theo sau, chẳng nói năng gì nhưng trong cả hai đứa đều có một cảm giác rất lạ, cái cảm giác làm cho người con Tuyết cứ nóng dần lên và làm cho gánh cỏ sũng nước trên vai thằng Đức nhẹ như bông...
Từ độ ấy, con Tuyết mê thằng Đức, ông bà Cầu phản đối ghê lắm nhưng nó cứ nhất mực khóc lóc không chịu ăn nhời, đến khi bà Cầu biết con bà đã có chửa thì họ thua. Thế mới có chuyện ông Cầu gọi thằng Đức bàn việc ăn hỏi và thế nên hôm nay nó mới phải mở miệng với U.
Thằng em cũng có vợ, ba gian nhà địa chủ, ba mẹ con ở thì thừa thãi, từ khi thằng lớn lấy vợ bà cho nó ngủ trong buồng, thằng em ngủ gian bên, trên cái giường một bằng sắt của các chú bộ đội để lại, còn bà nằm trên cái phản ở gian giữa.
Gọi là phản nhưng thực ra nó là bốn tấm gỗ muồng ngâm, anh bà khi còn sống gọi cho, nhà cũng nghèo nhưng anh bà chu đáo lắm, ông dặn.
-Bố mẹ chẳng còn gì để tôi chia cho cô, thấy cô vất vả tôi thương lắm...! Mấy tấm gỗ muồng tôi đã ngâm kỹ, bào nhẵn, cô mang về..., còn khỏe thì làm cái phản mà nằm, về già cứ nó mà làm áo...!
Bây giờ cả hai đứa cùng có vợ thì thu xếp làm sao... ba mẹ con ngồi bàn tính, thằng Đức bật ngay sau khi mẹ đặt vấn đề.
-Đéo biết...! Mày lấy vợ thì tao nhường buồng cho mày, giờ đến lượt tao mày cũng phải nhường.
May! Thằng anh nó hiền lành, chẳng có phản ứng gì.
-Em nó nói cũng phải. Thôi! Kê cái giường sắt ra gian giữa cho U, chúng mày lấy cái phản, U cho miếng vải làm cái màn gió ... thế là thành buồng.
Vợ chồng thằng cả không vui nhưng cũng không thể làm khác được... Rồi chúng nó ăn riêng, giường của nhà nào cũng là bàn ăn của nhà ấy, bà cũng thế, chỉ khác là đến bữa, hôm thì thằng bé bưng cho bà con cá diếc kho tương, hôm thì thằng lớn bảo vợ mang cho bà miếng đậu. Chả thấy chúng nó mời nhau bao giờ và hôm nào cả hai đứa cùng ... quên thì bà nhá cơm với mấy hạt muối, bà ăn thế quen rồi nhưng thấy bữa cơm mà chúng nó cứ im phăng phắc, bà buồn!
Cũng phải để chúng tự chủ lo việc gia đình vả lại, mấy năm nay bà cũng thấy trong người yếu lắm rồi, tham khảo họ hàng, đặc biệt là ông em làm cán bộ bên Hà Nội bà đi đến một quyết định tày trời, cái quyết định làm nhà bà chính thức, thật sự “Tan đàn xẻ nghé”..., bà chia nhà.
Luộc mớ lạc thật ngon, hãm nồi chè tươi thật đặc, bà đã giao hẹn chúng nó từ sáng là tối nay bà có chuyện cần nói.
Lâu lắm rồi mẹ con mới ngồi với nhau thế này. Mà không! Đây là lần đầu tiên mẹ con bà ngồi với nhau thế này. Khi chúng còn bé, những hôm rét quá không thể lội xuống ao được mà vẫn còn có cái đổ vào nồi, bà ở nhà vá quần áo cho chúng, hai thằng đứng hai bên nhổ tóc sâu cho bà..., chúng cũng im lặng..., im lặng như những bữa ăn của chúng bây giờ. Thằng Đức còn bé cứ đu vào vai bà nặng trĩu, bà nghiêng đầu sang nó một lúc thằng Thiện lại kéo đầu bà về bên kia, trời rét, chúng nó tỳ vai bà đau ê ẩm mà bà thấy ấm lòng…, các con bà đang lớn...,có lẽ cả đời bà chỉ có những giây phút ấy được gọi là hạnh phúc.
Bà ấp úng giảng giải cho cả bốn đứa về lịch sử, gia cảnh rồi những suy nghĩ của bà, những ý kiến của họ hàng... Bốn đứa chỉ ngồi yên được một lúc, thằng Đức sốt ruột gắt.
-Thôi! Có gì U cứ nói tuột ra đi, lâu bỏ mẹ...!
-... Bây giờ mẹ chia nhà cho các con. Thằng Đức lấy gian buồng, thằng Thiện gian bên rồi cứ kéo thẳng qua sân qua bếp, mẹ ở gian giữa, khi nào mẹ chết thì anh Thiện trông nom..., giỗ mẹ thế nào cũng được..., nhưng dứt khoát giỗ bố phải có mâm cơm, phải có rượu..., trước là cúng bố, sau thì mời họ hàng...
Vợ chồng thằng cả và con Tuyết ngồi im, thằng Đức cau mày ra điều suy nghĩ.
-U nói thế tức là sau này thằng Thiện được hai gian à...! Đéo được...! Giỗ cùng làm, nhà cùng hưởng, đã chia là phải bằng nhau.
Bà cố dùng những lý lẽ đã được bàn kỹ với họ hàng để thuyết phục nhưng nó nhất quyết không nghe, tiếng nó mỗi ngày một to, cặp mày cau lại, mặt thì cứ đỏ vằn lên. Bà đẻ ra nó, chăm bẵm nó từ đỏ hỏn đến khi nó đòi ăn riêng, bà thương yêu nó và cũng đã từng sợ nó nhưng mà bà không biết tính nó. Giá như bà biện cái nhẽ khác, rằng thằng Thiện nó yếu chẳng làm được việc gì và hỏi nó có sẵn lòng nhường cho anh không thì thể nào nó cũng đồng ý. Đằng này, nó cho rằng thằng kia cậy làm anh mà chiếm của nó, và một khi đã nghĩ như thế thì xưa nay nó có chịu ai bao giờ...
 Đến khi hết lý, hết nhẽ, bà cậy cái quyền làm mẹ ra mà quyết thì thằng Đức phát rồ thật, đập cái bát xuống nền nhà đánh “Choang”, nước và mảnh sành bắn tung tóe, nó đứng bật dậy quát vợ.
-Đi...! Đéo cần nữa...! Đã thế..., bố cho chúng mày tất!
Chẳng hiểu trời xui hay quỷ khiến mà con Tuyết yêu nó đến thế! Cái kiểu yêu như nô lệ với ông chủ, chưa bao giờ nó dám cãi chồng nửa lời, nó đã tốt nghiệp cấp II còn thằng Đức chưa hết lớp ba thế mà bảo sao nó làm vậy... Có ngày gạo hết, tiền không, chồng mang dậm xuống đồng sâu, vợ đeo giỏ lên đồng cạn, gặp nhau ngoài chợ, đứa nọ hy vọng đứa kia may mắn nhưng hôm ấy độc ngày, dăm con cua với ba con cá chuôi liềm thì ai mua, mà có mua thì được bao nhiêu tiền?  Về nhà, thằng chồng bực tức vì cái sức của nó chẳng được tích sự gì, đã thế con vợ còn lóng nga lóng ngóng không biết đường đi vay gạo về nấu cơm, cứ nhấc lên đặt xuống mấy con cua con cá, điên tiết, nó đập mạnh tay xuống sân quát.
-Mua rượu về đây cho ông uống...! Mẹ cha nó chứ...!
Nó chửi ai ...? Chắc nó chửi trời...! Vì chỉ có ông trời mới có thể xui bọn cua cá trốn vợ chồng nó kỹ thế.

Con vợ te tái cắp đít ra ngõ, rồi nó mang rượu về thật, cả một túm nem chạo lá sung nữa... Thằng Đức ngồi xuống mâm mà xót xa, nó thương vợ nó quá..., ân hận quá..., ngỡ bực mình nói thế thôi, nào ngờ vợ nó làm thật... Nó biết, nhà làm gì còn xu nào..., vay gạo nấu cơm cho con thì không sao chứ vay tiền mua rượu cho chồng thì ... tệ quá!

MIẾU VẪN CÒN THIÊNG


                                     
Bệnh viên Xanh-Pôn, những năm 86, một hôm, qua cửa phòng băng thấy chị y tá đang hí hoáy với một cái bàn tay là lạ, tôi quay lại... Trời...! Kinh khủng quá...! Hơn ai hết, những người làm xương khớp chúng tôi hiểu thấu câu “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”, thế mà một người đàn ông chừng ngoài 30 với bàn tay phải như một nắm đấm đỏ lòm chỉ còn nhô lên mỗi một mẩu ngón cái, nom như cái cuống một trái cam Ngô. Thật đau xót...! Người này sẽ làm gì để sống, để tự phục vụ mình chứ nói gì đến nuôi vợ nuôi con...
-Sao mà đến nỗi này ông?
Tôi sắn tay vào cuộc, mở đầu bằng câu hỏi như vậy.
-Ôi! Chuyện thằng này ghê và dài lắm Bác sỹ ạ.
Chị Y tá nhanh nhảu đỡ lời.
-Rồi...! Tôi làm còn lâu, ông cứ kể đi.
Tỉ mỉ cắt lọc từng li từng tí những mẩu da, những sợi cơ hoại tử, cân nhắc giữ lại đến tối đa, tôi vừa nghe cái thằng khốn khổ kể chuyện.
Bố nó mất sớm để lại cho mẹ nó hai thằng con trai mà nó là em. Nhà nó được chia của địa chủ, một cái nhà ngang dễ đến mươi gian mà nhà nó được ba gian đầu tiên theo hướng từ cổng vào, phía trước là cái sân gạch rộng lắm, bên kia sân, nơi thẳng ba gian giữa là cái bể nước mưa nửa chìm nửa nổi, nắp cuốn tò vò, hai đầu là hai bức cuốn thư với đủ đao, đủ bút và chi chit chữ nho. Chính giữa là cái lỗ cho người ta thò đầu vào mà múc nước. Đúng là địa chủ! Cái bể dài như toa tầu, nghe nói những năm hạn hán, giếng cạn, cả làng đến xin nước uống mà không cạn.
Ở hai đầu, ngay dưới hai cái cửa bể như thế là hai cái sân bếp cỡ chục mét vuông, hai gốc mít xù xì to gần bằng người ôm gần như quanh năm lủng lẳng những quả to quả nhỏ, cả cái thứ quả không thể phát triển mà người ta gọi là... Dái mít. Nối vào hai cái sân ấy là hai dãy bếp, mỗi cái ba bốn gian, gọi là cũng đúng vì đề đun nấu, một bên nấu cho người và một bên nấu cho lợn, liền với bên nấu cho lợn là
chuồng lợn chuồng bò, liền với bên nấu cho người là nhà ngang, chứa thúng mủng dần sàng, cối xay lúa, chày giã gạo...
 Đội cải cách lại chỉ chia cái nhà ngang cho các bần cố nông, thế rồi người ta tự kéo thẳng ra trước mà nhận, cái sân thì không có chuyện gì, cái khu trước mới rắc rối, chỗ thì là bể, chỗ bếp, chỗ chuồng trâu chuồng lợn, chồng xí, một trong hai cây mít lại mọc đúng ranh giới hai nhà... Mẹ cha bọn địa chủ, giàu có mà ngu, lúc xây không nghĩ đến lúc chia...!
Thế là người ta lục đục, người ta cãi nhau, chửi nhau rồi người ta phải đánh nhau. Mấy ông xã đến họp mấy lần, cuối cùng người ta “Thống nhất” một số điều:
-Bể thì của riêng nhưng nước thì của chung
-Nhà nào có bếp to thì ngăn tạm cho những nhà có bể... đun nhờ.
Nhà nó, vì ở ngoài nên được bếp. Mẹ nó mò cua bắt ốc nuôi anh em nó từ lúc bé tí, đến khi chúng nó lộc ngộc cũng là lúc bà đổ bệnh. Suốt ngày ngâm mình dưới ao dưới hồ, xúc ốc mò trai, lùi lũi men các bờ ruộng móc cua, mưa cũng như nắng, nóng cũng như rét. Trời rét căm căm, người ta xù xù áo bông ra đường, tối về rúc trong ổ rơm, bên đống dấm mà khoai nướng, ngô rang, còn bà..., không đi thì lấy gì đổ vào nồi cho hai đứa, chúng nó đang nhớn lại nghịch như quỷ sứ..., cái giống càng nghịch nó ăn càng khỏe. Bà vẫn ra đồng, uống ngụm nước mắm, ì ọp một hồi rồi cũng có cái mang ra chợ.
Như thế có khi còn dễ chịu, chẳng như cái đận tháng 5 tháng 6, nước nóng như sôi, hơi bốc lên ngùn ngụt, nhìn xa một chút là nhòe cả mắt ... thế mà cứ phải úp mặt vào bờ ruộng, thọc tay vào cái hang sâu đến tận nách, có khi chẳng thấy cua đâu lại tóm phải con rắn tránh nóng, rút phắt tay ra mà hồn bay phách lạc... Vài bận nó cắn cho, nào biết là lành hay độc, bà chỉ vuốt cho hết máu, máu không ra thì cho vào mồm mà mút, rồi nhá mấy lá cỏ ngay bên miệng cái hang ấy mà đắp vào vết thương, ngồi nghỉ một lúc cho hoàn hồn rồi lại móc tiếp.
Chẳng hiểu bài thuốc ấy nghiệm hay là ngoài đồng chỉ toàn rắn nước mà bà không làm sao.  Những con cua nằm bẹp nơi đáy hang vẫn bị bà móc ra cho vào giỏ, rồi thì chúng sẽ bị người ta xé xác, cho vào cối đá giã nhỏ, nấu canh. Bà biết..., bà đang làm một việc rất ác..., nếu như không vì hai thằng con đang đói hay nếu như có việc gì kiếm ra đồng tiền, kiếm được cái đổ vào mồm chúng nó thì bà chẳng bao giờ làm cái việc thất đức ấy nữa. Nghĩ thế, nên mỗi khi tay còn trong hang, bị cua cắp cho đau quá bà vẫn không bao giờ nổi giận, bà cứ để yên cho nó cắp, bởi vì bà đáng bị như thế mà.
-Cua ơi! Tao chẳng muốn bắt mày đâu! Nhưng mà các con tao đói, mày thương tao thì cắp thế thôi, đừng làm đứt tay tao nhé!
Bà cứ vừa nói vừa nhẹ nhàng kéo con cua đang hăng máu ra khỏi hang, đặt tay lên bờ ruộng, tưởng thoát chết, con cua nhả tay bà ra toan chạy, ngay lập tức nó sẽ bị bàn tay trái của bà chộp lấy.
-Cho mày vào đây mà cắp nhau, mà chơi với bạn bè đến tối nữa thôi...
Người ta thấy bà lủi thủi khắp đồng gần đống xa, đôi người bắt gặp bà thủ thỉ với những con cua... thế là cả làng gọi bà là... dở người.
Cứ như thế, người bà gày đét, da đen nổi nốc trắng xù xì, hai bàn tay thì đầy những vết cua cắp, rắn cắn.
May cho bà, sau khi lo vợ cho thằng lớn bệnh mới nặng hắn, chả biết làm sao mà chân tay cứ co rúm lại, các khớp đau nhừ, khô khốc chẳng thể co duỗi như trước được nữa. Người ta bảo đó là hậu quả những năm tháng chịu nóng chịu rét ..., còn bà, bà không nghĩ thế, bà đang khỏe lắm cơ mà..., chắc tại bà sát sinh nhiều quá nên trời bắt tội đấy thôi...
Cũng từ đó, thằng hai thay bà làm cái nghề bất đắc dĩ ấy, khác với thằng anh cao gày, ẻo lả nhưng ngoan ngoãn, dễ bảo, thằng em vừa lùn vừa to, trên người nó, từ những ngón tay, cái mũi, từ hai cái tai đến cặp môi, cái gì cũng cứ nùng nục... Bà cho thằng anh đi học thợ mộc, giờ nó đã vọc vạch sửa được cái bàn cái ghế, thế là tự kiếm miếng ăn, thằng em chỉ nghịch ngợm hỗn láo như quỷ sứ, chẳng chịu nghe bà bao giờ, chẳng nghề ngỗng gì, không còn cách nào ngoài nối nghiệp mẹ.
Thế mà nó cũng đòi lấy được vợ, một buổi tối bà thấy nó cứ lầm lì, từ lúc ngoài đồng về, giúp bà cơm nước (vợ chồng thằng lớn đã ăn riêng), ăn xong, rửa bát úp vào cái rổ... Lạ! Sao hôm nay nó ngoan thế! Ngồi phịch xuống bên bà nó buông tuột một câu.
-U..! Tôi lấy vợ...!
Giời ơi là giời! Điều bà lo lắng bấy lâu đã hiện về đó ư? Nó cùn kìn xấu xí thế kia lại chẳng có công ăn việc làm gì, nói năng hành động thì xấc xược cục cằn, ít nói nhưng mở mồm là Đéo là Địt, hễ cáu là bất luận già trẻ, lớn bé, vớ cái gì là nó phạng người ta bằng cái ấy.... Cái con giời đánh nào chịu lấy nó chắc cũng loại chả ra gì, không mèo mả gà đồng thì cũng con nhà mục mả...
Nhè miếng trầu ra tay, vờ đá lưỡi đẩy mấy cái sạn khỏi lợi phun phì phì ra đất cốt để có thời gian suy nghĩ thêm
-Ừ...! Để u xem, có đám nào vừa u hỏi...!
-Không phải hỏi! Tôi hỏi rồi...!
Những câu cộc lốc của nó như minh chứng nỗi sợ hãi của bà là không phải là thừa... Mẹ cha con đứa sứt môi lồi rốn hay con gái già nhỡ thì nhỡ lứa nào đây...?  Nghĩ vậy nhưng bà vẫn phải ôn tồn.
-Con hỏi ai rồi...?
-Cái Tuyết...! Xóm dưới...!
-Tuyết Cầu á...?
-Phải...!
Bà há mồm kinh ngạc. Giời ơi...! Đã đến lúc bà được hưởng phúc rồi sao..., ông í phù hộ cho mẹ con bà ư...? Hay thằng con bà đã làm trò gì mà lừa được con cái Tuyết...? Nhà người ta cơ bản thế, sao lại gả con gái cho thằng này được nhỉ... trầm ngâm hồi lâu bà lại nhẹ nhàng hỏi.
-Thế chúng mày đã xem ý thầy u nó chưa?
-Đã bảo! Rồi...! Thày nó bảo U xuống hỏi!

Thế thì bà có phúc thật rồi, tằng này không biết nói điêu bao giờ. 

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

TÂM SỰ HAI CỰU CHIẾN BINH

Tôi nhận được những dòng sau từ anh Hai Rạch Giá:
CSCN - XHCN là cái gì? Chính những người đang ở trog đảng CSVN còn chưa chắc đã biết. Tôi đã bỏ hai năm ra để đọc Mác - Lénin toàn tập mà còn chẳng hiều gì ráo. Có chăng là chỉ nổi gai ốc khi gặp phải mấy cụm từ "chuyên chính vô sàn" "bạo lực cách mạng".
Thật tình mà nói, nếu như những người tự vỗ ngực xưng tên và trưng cái thẻ đảng để không bao giờ từ bỏ cái thứ Chủ Nghĩa Mà Họ Không Biết Gì ấy là họ mất hết cái đặc quyền ngồi trên đầu cỗ thiên hạ. Anh thử nhìn xem số phận của những người trả thẻ Đảng ra làm sao thì thì anh biết ngay lý do tại sao họ vẫn bấu vào cái Chủ Nghĩa Mà Họ Không Biết Gì.
8 điều mà anh mong Đảng CSVN thực hiện là hoàn toàn chính đáng và chính nghĩa. Anh mong thế, mọi gười và tôi cũng mong thế. Nhưng ... buồn nẫu cả ruột anh ạ. Họ có làm đấy, làm theo kiểu những tay cờ bạc bịp.
Anh có nhìn thấy một đảng viên nào có nhà ở trong hẻm không, toàn là những nơi đắc địa cả.

Thân mến gửi Anh Hai Rạch Giá!
Từ ngày quen biết Saumietvuon, em đã để ý đến anh (Em tin rằng anh nhiều tuổi hơn em), qua những cảm nhận về văn thơ bên trang Sáu, em tin rằng anh là một người Việt luôn trăn trở cùng vận mạng đất nước, vận mạng dân tộc.
Xin giử anh lời chào Trân trọng và xin chia sẻ những trăn trở, băn khoăn cùng anh!
Cũng qua đó, theo em hiểu, anh cũng là CCB VNCH. Sau 30-4-75 những người Việt là CCB có những cái giống nhau và những cái khác nhau:
-Chúng ta giống nhau trước hết vì chúng ta đều là con dân Việt. Mang trong mình dòng máu Việt, mang trong tâm thức những thăng trầm lịch sử.
-Giống nhau là chúng ta, những người dân đã từng cầm súng Bảo vệ tổ quốc.
-Giống nhau là chúng ta cùng may mắn sống sót, cùng được về đoàn tụ với gia đình, chăm lo mồ mả ông bà tiên tổ, chăm sóc bố mẹ già, hưởng hạnh phúc cùng người vợ, cùng nhau sinh con đẻ cái, cùng nhau nuôi dạy chúng nên người.
-Giống nhau vì chúng ta đang cùng hưởng hòa bình, cùng chịu những cái, những điều mà hậu chiến mang lại.
-Giống nhau vì lúc này cùng là những công dân, trước nguy cơ mất nước nhưng hành động và lời nói chẳng mảy may có giá trị với những người cầm quyền..., chúng ta đang bất lực, tương lai của ta nằm trong tương lai đất nước, tương lai dân tộc đang phụ thuộc vào những nhóm người mà những nhóm ấy không thật sự đoàn kết, kẻ không lo, người không biết lo và người không dám lo cho lợi ích quốc gia dân tộc.
-Khác nhau vì chúng ta đã từng ở hai bên chiến tuyến.
-Khác nhau vì chúng ta đang mang tâm thế của “Bên thắng cuộc và Bên thua cuộc”. Mà cái “Cuộc” ấy đã qua đi 40 năm rồi, các đàn anh của chúng ta (Trong cuộc chiến) hầu hết đã cùng nhau về với Mẹ việt Nam rồi.
Em không muốn bàn thêm về CNXH, thứ mà người Nga và người Đức đã từ bỏ lâu rồi, thứ mà cả Anh và Em cùng bỏ công tìm và cùng không thể hiểu.
Hôm nay em chỉ tân sự cùng anh về CNXH ở Việt Nam và các Đảng viên ĐCSVN.
Anh biết đấy, về hiện tượng người Pháp vào VN, Tại sao vào, vào như thế nào và những gì đã xảy ra cho đến khi người lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên? Nhiều cái em còn chưa biết nên chưa bao giờ em dùng “Ngoa từ” để chỉ: Vị Vua nhà Nguyễn đã mượn Pháp, Chính quyền bảo hộ Pháp...
Nhưng sau đó có những làn sóng của người Việt quật cường tìm đường thoát Pháp. Em không nói đến những cuộc dấy binh khởi nghĩa vũ trang mà chỉ muốn nói đến những Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu những người có cách cứu nước dài hơi nhưng chắc chắn hơn.
Và Nguyễn Ái Quốc, Người đã có những hoạt động ái quốc tại Âu châu, đến khi gặp CNXH mới thấy rằng CHXH là CON ĐƯỜNG để giải phóng dân tộc, theo những gì em được biết và hiểu thì Hồ Chí Minh (HCM) không phải là một người Cộng sản, CNXH chỉ là con đường, là phương tiện để HCM cùng người việt giải phóng mình chứ không phải là ĐÍCH ĐẾN của HCM và dân tộc.
Con người, tâm trí của HCM là DÂN TỘC, Theo chỗ em được biết thì Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng là một người tôn thờ DÂN TỘC. Và đã có những lúc hai con người ấy, một tư tưởng ấy dường như đã gặp và sắp gặp nhau sâu hơn.
Một nhà báo Âu châu đặt một câu hỏi rất đắt cho HCM:
-Ông có những ham muốn gì?
HCM đã không ngần ngại trả lời:
-Suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho dân tôi ai ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai ai cũng được học hành...
Em không nhớ chính xác những câu chữ tiếp theo nhưng nội dung là: Sau khi ham muốn ấy đã đạt được, tôi sẽ về quê với nếp nhà, ao cá, vườn rau..., tận hưởng nốt cuộc đời cùng cây cỏ thiên nhiên...
Lời nói ấy, của con người ấy, vào thời điểm ấy cho biết HCM không phải là một người CS bởi người CS có mục đích cuối cùng là Thế giới đại đồng kia. Ông là người suốt đời lo cho đất nước, dân tộc Việt Nam.
Khi kháng chiến đã thành công, việc giữ tên nước, đổi tên Đảng là Nước VNDCCH và Đảng Lao Động Việt Nam cũng thể hiện cái ý chí ấy.
Sai lầm và cũng là cái khó của HCM là sinh thời người không có điều kiện để thể hiện rõ ý chí ấy với dân và đặc biệt với những người đồng đội. Khi người còn sống, chính con đường người chọn và các đồng đội của người đã làm khổ người để khi người qua đời thì CON ĐƯỜNG đã được các đồng đội biến thành MỤC ĐÍCH.
Con người vốn như nhau, như anh Hai Rạch giá và như em Phẫu vậy thôi, nhưng khi được trao danh vọng và quyền lợi thì điều đầu tiên là người ta phải cố giữ cho bằng được..., Những người sau này là như vậy. Những điều anh em mình biết, họ có biết không ...? Họ biết quá đi chứ ...! Cả những điều anh em mình không biết... họ cũng biết, nhưng QUYỀN và LỢI thì không dễ ai từ bỏ, đặc biệt khó khi nó là “Tập thể”.
Một người, một lúc nào đó muốn làm theo lợi ích dân tộc nhưng những người còn lại có thế...? Nếu không thì liệu làm có được...? Không ít người đã vì dân vì nước mà bị hạ nhục, bị thiệt mạng... Những người sau, hỏi có dám...?
Đấy! CNXH ở nước ta, theo em hiểu là như vậy.
Nói về Đảng và Đảng viên.
Từ ngày thành lập đến khi có hiệp ước Giơ ne vơ thì Đảng CSVN là tập hợp những người yêu nước, dám xả thân vì nước.
Từ hiệp định Giơ ne vơ đến hiệp định Pa ri thì cơ bản vẫn vậy nhưng tổ chức đảng bắt đầu là nơi đến của những kẻ cơ hội, muốn tiến thân, ít nhất cũng không ít người vào Đảng chỉ để “Cho oai”. Cũng cần nói rằng: ít nhất đến 1975, động cơ vào Đảng để làm giàu gần như là không có.
Ngày đó khái niệm Đảng viên trước hết phải là một người có đạo đức tốt, người dám hy sinh quyền lợi, thậm chí tính mạng cho lợi ích tập thể, lợi ích đất nước.
Cái đáng tiếc là những người tốt, tích cực Việt Nam lại sinh hoạt trong và theo những nguyên tắc của Cộng sản, thứ có Đại bản doanh (Hay ngày ấy còn gọi là “Thành trì”) ở Liên Xô, Trung Quốc.
Kể từ 1975 đến nay, những người vào Đảng đa phần là cơ hội, vào đảng không cần phải hy sinh nữa, vào Đảng mới có cơ hội thăng tiến sự nghiệp... Biết làm sao được khi ĐCS là duy nhất lãnh đạo nhà nước này.
Cũng cần nói rằng ngay sau hiệp định Giơ ne vơ, Đảng của HCM đã có những người phá và theo thời gian những người nhân danh Đảng để phá Đảng ngày càng nhiều.
Tôi đã thấy những người bất mãn, những người thành tâm thần, chỉ chưa thấy người tự vẫn vì Đảng thôi.
Thay lời kết tôi muốn nói với anh Hai rằng: Người tốt trong Đảng còn nhiều lắm, người nghèo trong Đảng cũng còn nhiều lắm! Nghèo hơn dân nhiều, nếu vẫn tuyệt đối trung thành với cách sống của một Đảng viên như ngày đầu....!
Tôi hết sức đồng cảm với anh hai nhưng hình như anh Hai hiểu chưa hết về ĐCSVN cùng những Đảng viên rồi!
Thêm: Nếu anh Hai đọc bộ Hồi ký 30-4 của tôi sẽ thấy, tôi đầy tự hào vì đã cứu được ít nhất 5 người lính CNCH trong tháng 4 năm ấy.... Tôi cứu họ vì tôi tin chắc chắn rằng: Họ cũng như tôi!
Kính chúc anh Hai luôn khỏe!

Mong được làm thân với anh dài lâu!