Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

ĐÊM HÔM QUA..!

0h 45', tắt máy định đi ngủ thì điện thoại reo.
-Anh ới! Có một ca máu tụ dưới màng cứng, mê sâu lắm rồi nhưng nó trẻ quá...!
-Mấy điểm..? Bao nhiêu tuổi..?
-Dạ 6 đ, có cơn duỗi cứng rồi, nhưng nó mới 20 tuổi.
-Ô kê! Mình đến ngay...!
Mặc quần dài, khoác cái ghi nê, chợt nhớ ra, gọi lại phòng khám.
-Chú Dũng I-1 đây, nói các anh làm xét nghiệm nhóm máu cho chú nhé, chỉ cần thế thôi, chu đến ngay đây.
-Làm hết rồi ạ!
Ông ôn không thấy mùi rượu, mê tít, cấu véo chỉ duỗi cứng, đồng tử hai bên giãn > 2 mm.
Đầu méo mó, sờ thấy ổ lõm lớn bên đỉnh phải. Trên phim cắt lớp thấy vỡ sọ phức tạp từ bên nọ sang bên kia, lún lớn ở đỉnh phải, máu tụ dưới màng cứng trái, dập não hai bên.
Phải mổ nhưng mổ như thế nào đây...? Nghĩ..., ra phương án.., giải thích cho bố nó.
-Thương tổn của cháu rất nặng, muốn hy vọng sống thì phải mổ ngay nhưng thương tổn nặng đến mức có thể chết ngay trên bàn mổ.
Gia đình đồng y. Ô kê, gọi huyết học.
-A lô! Chú Dũng I-1 đây! Chú sắp mổ một ca sọ não nặng lắm.., nhóm máu B, hiện cháu có không..?
-Dạ có ạ..!
-Tốt rồi...! Nếu cần chú xin nhé..?
-Vâng..!
Bác sỹ Chiến gây mê.. Tốt rồi! Phong mổ không bận ca khác, thế là tập trung..., rất tốt.
Chưa bao giờ phải mở một đường rộng đến thế.
 photo DSC_0002_zps72fegebp.jpg

Giải quyết các thương tổn không khó lắm ngoại trừ hai vấn đề.
-Máu chảy từ phía đường vỡ phía thái dương nền P (Không bộc lộ tới) cầm rất khó khăn.
-Cháu dụng cụ viên chừng mệt quá, yêu cầu lại cấp bách, cứ ú a ú ớ, cần thêm cái gì mới đi lấy, đưa cái dây cưa làm gấp đứt (Lội của nó một nửa, của mình một nửa)..., điên tiết, quát um lên.
-Tập trung vào...! Cái gì cũng chờ một tý...! Chờ thì chết mẹ nó rồi, còn mổ làm gì nữa.
Cuối cùng cũng cầm được máu... Ô kê hát
"Lẳng...ứ.. tai nghe...i ... dàn bầu..."
-Gớm...! Sao bây giờ chú mát thế...!
-Tao lúc nào chả mát...!
-Sao hồi nãy chửi chua ngoa thế...!
-Ơ ...! Cái con bé này...! Đồ vu khống.., chửi phải Tiên sư tổ sư chứ, tao có tiên sư tổ sư đâu...!
bác sỹ Chiến đủng đỉnh cãi hộ.
- Chửi phải con.., phải củ chứ...! Tao có con có củ gì đâu..., chú nhỉ...!
Thế là chúng nó không giận. Đóng xong, nhìn lại cái đường mổ mà hãi hùng

 photo DSC_0006_zps6yirwgvn.jpg

Bố nó cho cái phong bì, không thể không lấy vì còn anh em, họ nhiệt tình và rất khẩn trương, may ra thằng cu sống được.. nhận, chia cho mỗi thằng một tý (Đương nhiên giữ phần nhiều nhất cho mình)
Về đến nhà 4h37' tắm một cái, mở máy viết tiếp cuốn chấn thương sọ-não.
5h45' mệt, nghỉ, mở BTV thấy Hải Minh và bác Duy Đức vẫn thức, ghi mấy chữ nhắc các bác đi ngủ.
10h sáng nay đến thăm, các thông số ổn định, máu không chảy, đồng tử đều... hy vọng!

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi đang hoàn thiện cuốn:
CHẤN THƯƠNG ĐẦU
Hay còn có thể gọi là CHẤN THƯƠNG SỌ-NÃO
Không phải là người viết sách chuyên nghiệp nên còn rất lúng túng trong trình bày và đặc biệt không biết về kỹ năng đồ họa nên những hình vẽ để minh họa, giải thích còn chưa biết khắc phục thế nào.
Chợt nghĩ, các bạn trên Facebook đa phần là những nhà khoa học, những người có tư duy khoa học và kỹ năng viết, trình bày, bố cục.
Vậy trước mắt xin đưa lên đây từng phần:
-Lời nói đầu
-Mục lục
Hy vọng được các anh-chị và các bạn góp ý.
Xin chân thành cảm ơn
LỜI NÓI ĐẦU
Những năm gần đây, việc chẩn đoán xử trí chấn thương đầu đã có những tiến bộ vượt bậc, nếu như những năm giữa 90 của thế kỷ trước, hầu như cả Miền Bắc chỉ có một cơ sở phẫu thuật chấn thương đầu là Bệnh viện hữu nghị Việt-Đức, và cũng đầu những năm 90 ấy mới có một vài máy chụp CT-Scan ở địa bàn Hà Nội thì ngày nay tỉnh nào cũng có nhiều phương tiện chẩn đoán, bệnh viện tỉnh nào cũng đã có thể và đang triển khai phẫu thuật chấn thường đầu, thậm chí đến nhiều Bệnh viện khu vực, bệnh viện quận, huyện, đó là những tín hiệu đáng mừng.
Tuy nhiên, phẫu thuật thần kinh nói chung, phẫu thuật chấn thương đầu nói riêng đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững về Giải phẫu và sinh lý hệ thần kinh trung ương, cơ chế hình thành các thương tổn, diễn biến sinh lý bệnh, những tình trạng từ khi chấn thương đến khi không thể phục hồi thêm được nữa mới có thể có thái độ đúng đắn cho từng trường hợp.
Những nỗ lực của Bệnh viện Việt-Đức, của trường Đại học Y Hà Nội, Học viện quân y, và các trường khác là hữu hiệu và đáng kể nhưng tin rằng đâu đó các phẫu thuật viên trẻ vẫn có thể còn lúng túng về lý thuyết, cần một cuốn sách đầy đủ, chi tiết để có cái nhìn tổng thể và cụ thể từng người bệnh, từng giai đoạn của bệnh.
Động cơ ấy thúc đẩy tôi viết ra những kiến thức học được, đọc được và kinh nghiệm bản thân sau 20 năm làm về chấn thương đầu, hy vọng sẽ ít nhiều giúp được các Bác sỹ thực hành ở tuyến cơ sở.
Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp gần xa để hoàn thiện hơn.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

HOAN HÔ BÁC SỸ QUYẾT..! CỨ CƯƠNG QUYẾT THẾ NHÉ..!

Ngày nay, không loại trừ một ngành nghề nào, bên cạnh số ít cán bộ tận tụy, yêu nghề, yêu công việc, làm ăn chính đáng là số lớn hơn những người làm ăn chộp giật, cửa quyền, táng tận lương tâm trong đó, một số nghề không những không loại trừ mà ngược lại còn là điển hình đó là các nghề: Lãnh đạo, Thầy thuốc, thầy giáo, Nhà báo...
Chỉ cỏn con như việc chặt cây ở Hà Nội, bản chất sự việc (Ai cũng biết).., phản ứng của ông chủ tịch thành phố..., những việc làm và lời nói của ông Phó chủ tịch.., những phát ngôn của ông Phó ban tuyên giáo khiến người ta mường tượng được cách hoạt động, cách làm, ăn của những người làm nghề Lãnh đạo.
Nhưng mục đích của bài này, người viết muốn tập trung vào Thầy thuốc và Nhà báo.
Trước hết nói về nhà báo.
Vẫn có những người cầm bút trung thực, dũng cảm, hết lòng phụng sự sự nghiệp dân giàu nước mạnh, vẫn có không ít những bồi bút viết để nịnh, viết khoán, nói không trung thực, đánh lạc dư luận, viết vì tiền, vì cơ hội thăng tiến và vì hèn nhát.
Từ khi báo chí được can thiệp sâu hơn vào những hoạt động xã hội, người làm báo nếu không tự kiềm chế được mình sẽ sinh bệnh tự cao tự đại, bệnh

.., Ra oai..! Không ít trường hợp dùng thẻ nhà báo để tống tiền, mang cái mác nhà báo để dọa nạt đối tượng của mình.
Có báo, có đài làm phóng sự nói xấu đến mức có thể gọi là "Giết" cơ quan nào đó, thế rồi mời lãnh đạo của họ đến... duyệt..! Hoảng quá, dù bị oan, đại diện cơ quan vẫn cảm ơn, xin tiếp thu, hứa chấn chỉnh và... biếu cái phong bì tươm tươm...! Thế là phóng sự được hủy, thậm chí (Nếu phong bì quá to) sẵn sàng làm một phóng sự ca ngợi...
Một số người làm công an, quen nghề nghiệp đến mức ngồi giữa gia đình, bạn bè, xóm làng cũng giữ thái độ khi mặc cảnh phục đối xử với người dân và tội phạm.., Một số nhà báo cũng mắc bệnh ấy!
Đã lâu lắm rồi, tôi vừa viết một bài ca ngợi cô bún chửi ở chợ Trần Quý Cáp, đang định xin phép cô ấy rồi gửi báo nào đó xem có góp được tiếng nói về văn hóa Hà Nội thì đọc được bài "Bôi tro trát trấu" vào mấy hàng; Phở xếp hàng, Bún chửi, Cháo mắng, Phở bán theo giờ... Nghĩ mình không chuyên, chả cãi nhau được với họ nên đành thôi.
Cậu nhà báo này dậy không đủ sớm, muốn cho con ăn phở Bát Đàn, phải xếp hàng lâu quá, đã tự giới thiệu là "Nhà báo" mà những người bán hàng vẫn không ưu tiên.., thế là tức.., thế là viết...
Cái sự chửi, mắng hẳn là khó chấp nhận rồi, nhưng có đến, có nghe, có xem người ta mắng chửi ai? Vì sao? Và quan trọng hơn cả là "có biết nghĩ" mới thấy cái mặt hay, mặt tích cực của nó. Nhưng viết báo chửi cả cái sự xếp hàng thì vô duyên hết chỗ nói..! Xếp hàng là biểu hiện văn minh của loài người, phở ngần ấy tiền một bát, người giàu cũng như kẻ nghèo, người dân cũng như ông Chủ tịch thành phố, đã đến đây thì ai có mặt trước ăn trước, ai đến sau thì ăn sau..., khác lũ kền kền hay bầy linh cẩu là ở chỗ đó...!
Tóm lại, nhiều nhà báo quen với sự trọng vọng, kiêng nể của xã hội, hễ bị đối xử công bằng là khó chịu là dọa hay lao vào tấn công bằng bút.
Cũng cần phải khẳng định ngay rằng đấy là những nhà bào ..."Rẻ tiền" những người viết chân chính không bao giờ như vậy.
Thứ hai nói đến Thầy thuốc.
Tuy không thiếu Bác sỹ chạy theo cơ chế thị trường, vì tiền họ có thể làm nhiều chuyện ... không thể ngờ tới; kê thuốc không thật cần thiết thậm chí chỉ định mổ khi chưa thật cần, thái độ ra oai ra oách, hách dịch, ban ơn... Không ít Bác sỹ cầm tiền rồi bị bệnh nhân và người nhà sai khiến một cách hèn hạ.., nhưng vẫn còn những Thầy thuốc đàng hoàng, họ vẫn cầm tiền của gia đình người bệnh nhưng trên cơ sở không vòi vĩnh, tận tụy, đem hết khả năng và trình độ của mình để khám, chữa bệnh và khuyên bảo người bệnh, sau đó nếu gia đình người bệnh cảm ơn thật lòng thì họ không từ chối.
Nói đến Thấy thì phải nói đến trò, nói Thấy thuốc cũng cần biết thực trạng văn hóa của người bệnh và gia đình.
Nhiều người mang những bức xúc xã hội vào viện, mang những ấn tượng xấu về thầy thuốc (có khi là nghe qua người khác), cùng với sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội, những người thuộc nhóm tệ nạn ... thế là nhiều người đến viện để "Ăn vạ", để chửi mắng Bác sỹ, sẵn sàng đánh đập, hành hung cho hả những cơn tức (Có khi là tận đẩu tận đâu), hoặc cũng để..."Cho oai".
Một lần, một nhóm người hung hăng vào phòng khám Ngoại Bệnh viện Xanh-Pôn, chỉ mặt nhân viên quát.
-Địt mẹ chúng mày...! Có khám ngay không..!
Đám nhân viên chạy tóe, chả nhẽ chạy nốt, tôi chắp tay ra bộ sợ sệt
-Dạ...! Chúng tôi là Bác sỹ.., chả biết võ nghệ gì đâu.., mà yếu lắm.., các anh đập một phát là chết luôn đấy..., tôi sợ rồi.., tôi xin nghe lời các anh...!
-Khám đi!
-Vâng..! Nhưng khám cái gì hả anh..? Khám như thế nào hả anh...?
Hắn hạ giọng.
-Anh là Bác sỹ anh phải biết chứ..! Chúng tôi biết làm sao mà hỏi..!
Thế là tôi mới giảng giải cho chúng biết rằng không cần phải phong bì, không cần phải sợ sệt nhưng đã cần đến Bác sỹ mà chửi bới, dọa nạt.., họ sợ mà khám, mà cho thuốc thì chính xác làm sao được...! Bệnh cấp cứu cũng cần ca nào nặng xử trí trước, nhẹ sau..., như nhau thì ai đến trước khám trước, ai đến sau khám sau, nếu chúng tôi khám cho các anh trước thì những người kia nghĩ sao...! Thôi...! Rút kinh nghiệm nhé...!
Đấy chỉ là một trong muôn vàn những chuyện xảy ra trong Bệnh viện hàng ngày, hàng giờ, những chuyện ... cười ra nước mắt...!
Nhà báo như thế, Thầy thuốc như thế và văn hóa xã hội như thế, tôi thầm phục anh Quyết đã cương quyết từ chối mổ dịch vụ cho cô nhà báo nào đó...!
Xin các bạn đừng vội cho rằng tôi bênh đồng nghiệp bởi ngày nay, một Giám đốc bản lính như thế hiếm lắm.
Cũng như tay nhà báo nọ, muốn ăn phở Bát Đàn thì chịu khó dậy sớm một tý, lỡ muộn rồi thì ăn tạm chỗ khác đi.., rồi hôm sau đến sớm hơn, ai lại cứ đòi "hơn người", không được thì tức, thì viết báo chửi bới...
Cô nhà báo kia có cái u xơ tử cung, hầu như bác sỹ khoa sản Bệnh viện tỉnh nào cũng mổ được, đừng nói các Bác sỹ Bệnh viện Sản trung ương. Người có tiền mới mổ dịch vụ, mổ theo yêu cầu (Chọn ngày, chọn bác sỹ mổ, phương tiện mổ). Khi đó, không nói cái việc khám chữa bệnh bởi đã là nhiệm vụ, là bổn phận của thầy thuốc.., riêng cái khoản "Theo yêu cầu kia" là một loại hàng hóa, bên mua có quyền yêu cầu và bên bán có quyền từ chối.
Nếu cô kia vào viện bình thường, Bệnh viện phân công mà Bác sỹ Quyết từ chối, hoặc là bệnh cấp cứu, vào phiên trực mà Bác sỹ Quyết từ chối không mổ cho bất cứ đối tượng nào vì bất cứ lý do gì là phạm pháp và phạm đạo đức nghề nghiệp.
Cô nhà báo hoàn toàn có thể yêu cầu Bác sỹ khác và được mổ nếu Bác sỹ đó đồng ý. Cô cũng có thể chuyển sang chế độ bình thường như môn ngàn người bệnh khác. Cô cũng có thể đến một Viện Sản khác và tại đó cũng theo quy trình như vậy.
Cô là nhà báo, hẳn có Bảo hiểm y tế, tại sao cô không khám theo bảo hiểm..? Quá tải ở các bệnh viện trung ương có một phần nguyên nhân từ tâm lý "Hơn người" của các đối tượng được xã hội trọng vọng, từ đó lan truyền sang tâm lý dân chúng, nhiều ngà nghèo cũng bán đất, nhịn đói để lên trung ương chữa bệnh.., bệnh nặng, bệnh khó, cần nhiều phương tiện và tay nghề đã đành, bệnh không thật sự như vậy cũng.., cứ phải thế.
Hoan hô Bác sỹ Quyết! Cứ cương quyết đi...! Tôi ủng hộ Bác sỹ...!

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Chém gió-Nhân chuyện Hà Nội chặt cây

MỚ NỘM
Chiến thắng Điện Biên và hiệp định Gơ Ne vơ làm thay đổi Việt Nam sâu sắc, đương nhiên điển hình là Hà Nội.
Trước hết là sự thay đổi về con người, nhiều người Hà Nội ra đi nơi khác và nhiều người từ nơi khác về sống ở Hà Nội.
Đối tượng ra đi (Họ đi Pháp và đi Miền Nam) chủ yếu và đáng tiếc nhất là các nhà tư sản và giới trí thức.
Họ là những ông chủ nhà máy xí nghiệp, những người biết và say mê làm ăn, giỏi quản lý. Họ là chủ các tiệm buôn lớn, các công ty mới hình thành và đang phát triển, những người đã trưởng thành trong môi trường thương mại.
Họ là những kỹ sư, bác sỹ, nghệ sỹ, nhà khoa học, những người được đào tạo bài bản và đã hoạt động theo tiêu chuẩn Pháp.
Họ là những công nhân, những viên chức chất lượng cao, những thợ lành nghề trong ngành điện, cơ khí, dệt, động cơ..., nhờ được đào tạo và nhiều năm làm cho các cơ sở của Pháp, theo tiêu chuẩn chuyên môn cũng như kỷ luật của một nước phát triển..., những chuyên viên về tài chính, nhân sự, quản lý đô thị thông thạo tiếng Pháp và đôi khi cả tiếng Anh
.
Tôi cho rằng những người này nói riêng và hầu hết những người ra đi năm 1954 đều yêu nước, thậm chí rất yêu nước bởi họ cũng như mỗi chúng ta không ai là người muốn sống xa xứ, muốn lưu vong nơi đất khách quê người, nơi chiều cao..., màu da..., màu mắt..., không thể trộn lẫn với người bản xứ, hơn nữa họ là những người ít nhiều đã thành công, ít nhiều đã có tài sản, họ cũng như tất cả những người Việt khác, đều muốn sử sụng những thứ họ đã có để duy trì và phát triển cuộc sống nơi quê nhà, chăm sóc mồ mả ông bà tiên tổ, nuôi dạy con cháu thành người và góp phần cho đồng bào, cho đất nước mình.
Có lẽ họ bị bọn đế quốc phong kiến xúi giục, bị dọa rằng; Tài sản, thậm chí tính mạng của họ sẽ bị cộng sản tước đoạt, những khả năng, kiến thức và kinh nghiệm của họ sẽ không được sử dụng, họ sẽ phải đi lao động giản đơn để cải tạo, con cháu họ sẽ không được đối xử công bằng và không có điều kiện để phát huy những phẩm chất mà họ đã có...
Bọn đế quốc Phong kiến thật là thâm độc, tàn bạo và giã man... Chúng đã bắt người ta phải lựa chọn giữa quê hương, tổ quốc với quyền được sống, được làm việc, được phát huy khả năng của mình và được nhận về những thành quả xứng đáng..., thứ mà sinh vật nào cũng phải chọn trước hết, chúng đã cướp không của Việt Nam, của Hà Nội một lực lượng quý giá..!!!
Trừ một số doanh nhân lớn thì đa số dân "Kẻ chợ" ở khu phố cổ không đi bởi như đã nói, họ ít quan tâm đến chính trị và hầu như chính trị cũng ít ảnh hưởng được đến họ.
Như vậy, khu phố Tây có tỷ lệ ra đi nhiều nhất, những người Hà Nội còn lại chủ yếu là dân kẻ chợ, những người phu lao động giản đơn, những người buôn bán nhỏ.
Những người mới đến Hà Nội.
Trước hết là bộ máy chính quền, cả trung ương và Hà Nội từ chiến khu trở về, những người lính vệ quốc được phục viên, chuyển ngành đảm nhận những vị trí của những người bị xúi dục ra đi để lại.
Đương nhiên những trụ sở công, những tài sản của người Pháp được quốc hữu hóa và chính quyền mới sử dụng.
Những cơ sở sản xuất, kinh doanh của người Hà Nội bỏ ra đi cũng đương nhiên thuộc về chính quyền.
Nhà cửa của họ có thể được quốc hữu hóa, được những người giúp việc cũ khai nhận hay những người mới về .. "Nhận đại".
Một mẫu người Hà Nội mới hình thành, đương nhiên khu phố cổ ít thay đổi cả về con người, cách sống và lối sống. Những cán bộ kháng chiến, những trí thức đi tản cư hay kháng chiến trở về được phân công về các viện nghiên cứu, các cơ quan bộ và chiếm khu phố Tây do người Pháp và những người di cư để lại.
Việc tiếp quản những nhà máy cũ, mở thêm một số nhà máy, khu công nghiệp mới dưới sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, thu hút một lực lượng lao động ngoại tỉnh, họ là nông dân hay con em nông dân đủ tiêu chuẩn lí lịch, được đi ..., "Thoát ly".
Sau này, các viện nghiên cứu, các trường Đại học, chuyên nghiệp được mở ra nhiều hơn, những người tốt nghiệp đại học, đặc biệt những người được đi du học ở các nước XHCN trở về đa phần được nhận việc ở Hà Nội.
Tính chất dân số thay đổi sâu sắc kéo theo những thay đổi rõ rệt về văn hóa. Mặc dù theo thói quen người ta vẫn nhắc đến người Hà Nội "Thanh lịch", hay nhắc đến người "Tràng An" nhưng thực ra, thứ thanh lịch ấy được truyền qua những người Hà Nội ở lại để đến những cư dân Hà Nội mới... Chả thế mà ta có thể dễ dàng nhận thấy, một gia đình cán bộ (Khoa học hay chính trị) dù đã về ở khu Ba Đinh hay khu phố Tây từ ngay sau năm 1954 vẫn có nét khác biệt nếu so với những gia đình truyền thống ở các làng ven đô như Ngọc Hà, Giảng Võ, Vạn Phúc...
Vụ Nhân văn-Giai phẩm, "Tàn dư, cặn bã" của tư tưởng, lối sống cũ do chính những trí thức đi kháng chiến trở về chủ trương đã bị Ta đập cho tan tành...! Từ đó, văn hóa của ta lành mạnh với duy nhất một tư tưởng, một tinh thần "Tích cực nhất". Bọn Nhân văn giai phẩm, đáng tiếc trong đó có cả những tên tuổi lớn như Văn Cao, Trần Dần, Nguyến Hữu Đang.. nếu không rũ tù thì cũng phải chôn vùi tư tưởng của mình trong bốn bức tường.
Cũng đáng tiếc, từ đó văn hóa nghệ thuật của ta nói chung, của Hà Nội nói riêng bớt đa dạng..., bớt đi tính mềm mại duyên dang vốn có và cần phải có..., không thật rõ rệt nhưng dường như văn hóa được thống trị bởi một cung cách như kiểu "Hồng vệ binh".
Giai đoạn này, khi nói đến người Hà Nội người ta đã bớt nhắc đến cụm từ 'Thanh lịch", thay vào đó là câu: "Tự nhiên như người Hà Nội". Đa phần hiểu câu này đơn giản chỉ là người Hà Nội khi đó không bẽn lẽn, thận trọng trong giao tiếp và hành xử ở những nơi không phải nhà mình. Điều này trái ngược với tâm lý của những người bị coi là "Nhà quê", họ thận trọng đến mức hơi nhút nhát khi đến những nơi công cộng như tàu điện, rạp chiếu bóng, công viên..
Thực ra, câu này cũng phản ánh một số tính xấu mới của người Hà Nội mới, họ ra vào những nơi không phải nhà họ, sử dụng những thứ không phải của riêng họ một cách "Quá tự nhiên", họ nói to, khạc nhổ một cách "Quá hồn nhiên" đến độ không cần quan tâm đến thái độ của những người xung quanh.
Khi vào sinh hoạt tập thể như quân đội, nhà máy, trường học... thì nhiều người cho rằng tỷ lệ ăn cắp vặt của người Hà Nội cũng cao hơn những người đến từ các tỉnh lẻ.., câu "Tự nhiên như người Hà Nội" cũng còn một ý nghĩa như vậy.
Có một thực tế, Hà Nội là thủ đô, là đô thị lớn nhất miền Bắc, nơi tỷ lệ những người có chức có quyền cao nhất nên hình thành tâm lý coi khinh dân "Nhà quê" mỗi khi về với ông bà, chú bác, họ hàng nhà mình.
Từ năm 1954 đến những năm đầu 1980, văn hóa và con người Hà Nội là như thế.
Kiến trúc Hà Nội gần như không thay đổi ngoại trừ sự cũ đi, những mảng tường bong vữa lở loét, những "Mái ngói thâm nâu" và những cái nhà xí vốn của riêng nay thành tập thể không có lối thoát, cùng mấy khu nhà 4-5 tầng được xây hay lắp ghép ở Kim Liên, Giảng Võ.
Từ sau năm 1975, song song với làn sóng người Sài Gòn, người Miền Nam bất chấp hiểm nguy vợt biên ra nước ngoài là một cuộc di cư âm thầm, dần dần của người miền Bắc, người Hà Nội vào Nam... những người này cho rằng; dẫu sao về nhiều phương diện, Sài Gòn và Miền Nam vẫn.., dễ thở hơn...!
Hà Nội lại mất đi một nhóm người nữa.
Cơ chế thị trường mở ra, các cán bộ lãnh đạo vốn chỉ hơn dân cái bìa B hay C với vài bìa đậu hay mấy lạng thịt nay giàu lên nhanh chóng và khủng khiếp. Chuyện công nương nhà lãnh đạo nọ mua nhiều xe SH làm quà tặng bạn nhân sinh nhật của mình.., chuyện vị cán bộ kia để quên cặp tiền đô trên máy bay.., chuyện các quý tử bỏ xe máy, đua ô tô hạng sang trên đường Láng-Hòa Lạc cho thấy cái giá của những vị trí lãnh đạo.
Tôi ngạc nhiên đến choáng váng khi anh bạn làm Phó giám đốc Bệnh viện chỉ mặt mà bảo:
-Ông có biết quyền lợi là gì không...? Có quyền là có lợi..., quyền nào lợi ấy..., quyền càng to thì lợi càng to...!
Phân hóa giàu nghèo nhanh chóng và sâu sắc, các công ty nước ngoài đến Việt Nam, đương nhiên tập trung đầu tiên và nhiều nhất ở Hà Nội, những người đủ năng lực làm việc cho họ cũng có cuộc sống trên trung bình.
Thị trường mở ra ào ạt, tất cả những chỗ có thể đều được đưa vào kinh doanh.
Đương nhiên, đất ở trở nên khan hiếm, giá tăng vòn vọt, những gia đình ven đô không thể từ chối sự cám dỗ, họ bán bớt đi và bỗng chốc có một khoản tiền lớn.
Cả Hà Nội thành một thị trường lao động lớn thu hút những người nông dân vốn đang bị mất dần đất canh tác và sản phẩm làm ra không đủ sức cạnh tranh. Họ đổ về Hà Nội làm đủ mọi việc, từ bán sức lao động ở "Chợ người"..., Ô sin..., lao động thời vụ trong các công trường, dự án, mở hàng buôn bán vặt (Sim thẻ điện thoại, hàng rong).
Dường như chính quyền có những ban bệ về quy hoạch kiến trúc đô thị, cùng rất nhiều luật, lệ nhưng thành phố vẫn phát triển bừa bãi mà người ta cảm giác rằng không có sức mạnh nào ngăn nổi, chen chúc nhau nhiều nhà không thể gọi là nhà, ngõ không thể gọi là lối đi.
Đã có lúc người ta định chuyển Hà Nội lên lên một vùng đồi nào đó nhưng ấy là thời "Chỉ huy" tức là thời chính quyền còn "Chỉ huy" được.., thời bao cấp.
Người ta xóa bỏ bao cấp và ra sức khẳng định cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường đã có hay chưa, đã đạt hay chưa thì tôi không biết nhưng cho rằng; Cơ chế "Bao cấp" đã chuyển thành cơ chế "Xin-cho".
Từ lâu, xuất hiện câu: "Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền", như vậy, cả Hà Nội biến thành một cái thị trường khổng lồ và sôi động, cái gì cũng có thể mua bán được, từ vị trí, chức tước đến cái toa lét công cộng.
Tôi không hiểu lý do gì mà Bộ quốc phòng cứ nhất thiết phải bám lấy khu thành cổ...? Tòa nhà quốc hội nhất định phải xây ở khu Ba Đình, ngay kề với khu Hoàng thành mới khai quật... trong khi bộ Công An, Trung tâm hội nghị quốc gia đã di dời ra ngoại ô cũ.
Những khoảng đất trống trong nội thành cũ được khai thác triệt để cho đủ loại dự án để cuối cùng đất công thành sở hữu riêng (Dù là người nước ngoài hay các đại gia rửa tiền)
Dự án bảo tồn phố cổ dường như nửa vời, vừa làm khổ người dân không được sửa những thứ đã mục nát, vừa đâu đó chạy chọt cũng được..."Làm mới" khiến khu phố này thành mớ hổ lốn rất "Không giống ai".
Người ùn ùn kéo đến, nhà chen nhau mọc lên trên cái hạ tầng người Pháp thiết kế cho 100.000 dân thì làm sao không tắc đường, tắc cống, tắc khí... cho được..!!!
Như vậy:
Về con người và văn hóa Hà Nội ngày nay là một mớ nộm, trong mớ nộm ấy những người, những nét văn hóa thật sự Hà Nội chìm nghỉm xuống đáy, một bộ phận trong họ cũng bị mai một theo kiểu "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài" hay "Gần mực" mãi cũng phải đen...
Người Hà Nội xưa, khi đạt đến một trình độ kinh tế nhất định cũng thể hiện nhưng không như bây giờ. Một lần đến Hàng Đường, tôi sững sờ ngắm ba người phụ nữ bán hàng, ba lứa tuổi khác nhau nhưng họ chung nhau nét giản dị, kín đáo mà kiêu sa.., từ quần áo, đầu tóc đến cử chỉ lời nói... tôi chợt vỡ nhẽ, hóa ra những kiểu đầu nhuộm hoe hoe đã thành mốt ở ngoài kia, những cái quần bò khi ngồi để lộ cả bộ phận cần che kín nhất.., những kiểu áo hở đến hơn nửa bầu vú.., những vòng, những nhẫn lủng lẳng trên cổ, chi chít trên tay kia là của một thứ Hà Nội khác, Hà Nội mới.
Về kiến trúc, có rất nhiều lệnh cấm nhưng hình như điều cấm nào cũng có thể ... "Chạy" được, người dân chạy bằng nhiều tiền, các dự án lớn chạy bằng "Rất nhiều tiền" nên mớ nộm này lộ rõ, ai cũng thấy, ở đâu cũng thấy chứ không trừu tượng, phải để ý mới thấy như mớ nộm con người và văn hóa.
Trong cái cơ chế này, ở đâu có xây dựng, ở đâu có dự án là ở đấy kiếm ăn được, người ra chủ trương ăn quà biếu, đại diện bên A ăn phần trăm, kỹ sư, công nhân ăn bằng bớt xén và ăn cắp..., thế nên rất nhiều công trình, đại công trình hoặc cố tình chậm lại, hoặc cố tình lấp liếm bôi trát để kịp khánh thành vào một cái dịp, cái "Ngày lễ lớn" nào đó rồi nhanh chóng hư hỏng, để lại có dự án mới.
Không biết đã có ai thống kê xem dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, nơi này có bao nhiêu công trình "Gắn biển" như tòa nhà bốn tầng (Mới được cơi nới thành năm) ở Bệnh viện Xanh-Pôn, người ta xây cái ụ lù lù, ốp đá màu nâu đỏ, khắc chữ vàng "Công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội" chẳng ai xem, ngộ có nhìn thấy thì dường như cũng chẳng ai có cảm xúc gì.., nhưng khó mà thống kê hết được những lãng phí.
Khi người ta lập dự án, người ta xây dựng, người ta quản lý đô thị theo kiểu chộp giật như vậy thì cái dự án chặt cây xanh kia cũng chẳng có gì là lớn chuyện.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn việc này theo hai phía, phía ủng hộ và phía phản đối.
Cũng từ những dự án chộp giật và a dua ấy, người ta đã từng đua nhau trồng cây hoa sữa ở nhiều tuyến phố...
Tội là ở cái thằng cha mũi lõ mắt xanh nào đó đã trồng thứ cây này ở đường Nguyên Du..! Tội là ở mấy ông nghệ sỹ nào đó đã đưa cái mùi ấy, cái hoa ấy vào nghệ thuật:
"Chỉ còn mùi hoa sữa nồng nàn..."
"Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm..."
'Hoa sữa thôi rơi..."
Thế là để tỏ ra mình sành điệu, mình am hiểu, mình yêu "Hà Lội", hoa sữa được trồng tràn lan.
Thiết nghĩ, người ta trồng cây ở đô thị trước hết để lấy bóng mát, để điều hòa không khí và cảnh quan nhưng những giá trị của hoa, quả, gỗ cũng phải được tính đến. Khốn nạn cho nhà nào ở gần hai cây hoa sữa.., cái giống này nở về mùa thu, tức là mùa ít gió, lại nở về đêm, cái mùi ấy mà đậm đặc thì ít nhất cũng mất ngủ nếu không phải đi sơ tán hay phát điên... Mùi đã thế, cái màu hoa lại không rực rỡ lắm, quả thì hẳn chả có tích sự gì ngoài... làm rác, đặc biệt là giống cây thân thảo, gỗ của nó đem đun cũng khó nói chi đóng đồ...
Nếu người ta nhận ra "Sai lầm" của những người tiền nhệm mà sửa, mà thay bằng loại cây khác hiệu quả hơn thì cũng không nên đao to búa nhớn làm gì.
Những cây già chết thì hẳn rồi, những cây nghiêng ngả ảnh hưởng đến sinh hoạt đô thị cũng cần được thay.
Thậm chí những cây đến tuổi, quá tuổi cũng có thể thu hạch vì nhiều nhẽ.
-Loại sinh vật nào cũng có tuổi thọ hữu hạn, chả nhẽ cứ phải chờ cho cây chết lãng phí trong khi nguyên liệu gỗ ngày một khan hiếm.
-Người trồng cây là để thế hệ sau "ăn quả", nếu xem việc thu hoạch gỗ là ăn quả và luôn "Nhớ kẻ trồng cây" thì sao lại không ăn...? Để cây chết chả đắc tội, chả phụ công người trồng sao...?
Mấy ngày qua, dư luận ầm ầm lên tiếng, người người tức giận, bức xúc lắm nhưng tôi lại thấy mừng, mừng vì hóa ra dư luận, tiếng nói của dân cũng có tác dụng ra phết...! Cứ đà này thì chả mấy mà chúng ta có dân chủ...!
Thứ nữa, tôi thương mấy người ra cái quyết định chặt cây, họ có những "Sai lầm" đến dại dột.
Một là: Tại sao không lấy ý kiến của dân mấy phố trồng toàn hoa sữa...? Hạng bét như tôi cũng chỉ ra được những vô dụng của loại cây này, huống chi các "Chiên gia"... Khi được ý kiến của dân rồi, tức là mượn được "Gió" rồi, có bẻ mấy cây "Măng" thì chắc cũng sẽ trôi...
Hai là: Có "bẻ măng" thì bẻ từ từ, chặt cây chết, cây ốm rồi trồng mới đã... êm rồi mới chặt cây "già", cây "Sắp già".., có phải là .., ngon không.
Hỡi ôi...! Trong cái mớ nộm văn hóa và kiến trúc Hà Nội đã ngả mùi thiu thiu thì mấy ông chặt cây, cái việc chặt cây chỉ là thứ có mùi ..."Lộ liễu quá" mà thôi, nên tự làm khổ mình vậy..!

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Chém gió nhân chuyện Hà Nội chặt cây-ĐÔ THỊ

Từ thời Lý đến trước khi người Pháp nắm quyền là thời của phong kiến Việt Nam. Dân "kẻ chợ" vẫn là chủ yếu nhưng sau khi có đê, nghề canh tác cũng phát triển ở đây. Thủ đô của nhà nước phong kiến cũng là nơi tạo ra tầng lớp trí thức, học giả.., tính chất dân số và văn hóa ít nhiều đa dạng hơn
Đỉnh cao của kiến trúc, chắc phải là Hoàng thành, nhưng ngày xưa cũng thế, đất này không phải thật lành, Hoàng Thành nếu không bị giặc phương Bắc tàn phá thì cũng bị kiêu binh đốt. Những công trình còn lại chủ yếu là văn hóa và tín ngưỡng bao gồm các đình, chùa, đền và Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Về kiến trúc, người Pháp xây dựng lại Hà Nội, họ giữ khu Ba Đình, (bao gồm Hoàng thành và lân cận) làm trung tâm chính trị cho cả Đông Dương, họ phá thành nhưng bớt lại những kiến trúc cơ bản như ngày nay còn nhìn thấy như Cửa Bắc, Cột cờ...
Không chỉ những công trình văn hóa (Nhà hát, rạp chiếu bóng) khu hành chính, dịch vụ, công nghiệp được bố trí khoa học, tôn trọng được các kiến trúc Thăng Long cũ mà hạ tầng cơ sở như cống rãnh, điện, nước đến những hàng cây bên các con phố cũng được tính toán tỷ mỷ
Họ giữ nguyên khu Phố Hàng, Phố Thợ mà xây khu phố Tây ra những khu bên ngoài với quy hoạch khá chu đáo cho hơn 100.000 dân.
Cũng từ khi người Pháp hiện diện, chữ quốc ngữ ra đời tuy dân "Kẻ chợ" hầu như ít thay đổi nhưng diện mạo văn hóa người Hà Nội nói chung thì đổi thay sâu sắc, tầng lớp "Tây học", "Âu hóa", mà ta từng mỉa mai, xuất hiện và phát triển nhanh chóng.
Tầng lớp trí thức mới ra đời, những Bác sỹ, kỹ sư, kiến trúc sư, luật sư, Giáo sư, nhà văn, nhạc sỹ, họa sỹ người Việt xuất hiện và lớn mạnh. Thế hệ sau cùng của họ có những tên tuổi như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Võ Nguyên Giáp ... Những danh nhân cùng những sản phẩm của họ minh chứng thời phát triển rực rỡ nhất của văn hóa Hà Nội.
Hình như không có "phong trào", không có "kế hoạch", không có tuyên truyền nhưng văn hóa Việt, văn hóa Việt-Hoa đã tiếp thu khá chọn lọc văn hóa Pháp, văn hóa Tây phương,.., theo tôi, điển hình là cái áo dài của phụ nữ Hà Nội.
Mẹ tôi,( ngày ấy là vợ ông Ký nhà máy đèn) kể rằng, người phụ nữ ra đường là phải mặc áo dài, nếu không sẽ bị chê cười, mỉa mai rằng: "Con chó không có đuôi...!" (Các cụ thâm thế đấy, cái đuôi con chó cái để che bộ phận nào nhỉ...!)
Trộm nghĩ câu "Người Hà Nội thanh lịch" và những câu tương tự là ám chỉ cái văn hóa của những người Hà Nội mới (Thời bấy giờ), ở khu phố Tây, ở những làng xóm ven đô, thứ văn hóa tụ hội của phong kiến Việt Nam-Trung Hoa và văn hóa Pháp, tây phương. Từ cách ăn, cách mặc, cách nói, cách ứng xử...
Như vậy, nếu không nói sự đô hộ của chính quyền Pháp, nếu chỉ nói về kiến trúc và văn hóa ĐÔ THỊ thì khoảng trước năm 1954 là đỉnh cao của Hà Nội.

Chém gió: Phần II-Kinh Kỳ!

KINH KỲ
Trải đằng đẵng thời kỳ Bắc thuộc, đất này được gọi là Đại La, cái tên người Bắc đặt có ý nghĩa gì tôi không bàn đến nhưng nó gắn liền và để lại dấu tích đến nay là con đê, đê La Thành.
Nhiều tài liệu và học giả cho rằng đê sông Hồng được khởi đắp từ thời Lý, tuy không "Cãi" nhưng tôi cho rằng hệ thống đê bảo vệ khu vực này phải được khởi đầu từ thời ấy, thời Bắc thuộc.
Suy luận ấy bắt nguồn từ chính đê La Thành, con đê hiện giờ còn hình dung dễ dàng và chỉ 20 năm về trước vẫn còn gần như nguyên vẹn. Bắt đầu từ vùng nối Phú Thượng-Nhật Tân bây giờ, nơi trước kia người Pháp đặt cái lô cốt, đê chạy dọc theo một bên là sông Tô Lich, một bên là hồ Tây để về đến Cầu Giấy (Nay là các đường; Lạc Long Quân, Bưởi) rồi rẽ theo đường Đê La Thành bây giờ, từ đây, hai bên đê là đồng ruộng, không có con sông nào, qua Ô Chợ Dừa đê chạy xuyên Xã Đàn, Kim Liên, qua ngã tư vào Đại Cồ Việt, Trần khát Chân.
Như vậy, Đê La Thành như một cái đai ôm lấy phía Tây-Nam khu chợ ấy, phía bên kia là sông Hồng, điều này chỉ có lý khi đê sông Hồng có trước. Hay có thể hiểu, khi Cao Biền, người cuối cùng đặt yểm mà làm được đê thì mùa lũ, Hà Nội lúc bấy giờ nằm đưới mực nước (Cũng như thành phố gì bên Bắc Âu vậy).
Ở thời ấy (Bắc thuộc) chắc hẳn người Trung Hoa đã tổ chức lại để cai trị đám dân "Kẻ chợ" này, việc buôn bán đã thành phường thành hội.
Chữ Thành trong "La Thành" gợi ý rằng ít nhất đây cũng là trung tâm hành chính của một vùng, nếu không nói là của Bắc bộ.
Khi Lý Công Uẩn rời đô về và đổi tên thành Thăng Long thì đất này thật sự thành chốn Kinh Kỳ, ngoài người buôn bán, thợ thủ công thì các dòng tộc Vua-Chúa ở trong thành, các phủ quan nhỏ hơn ở vòng ngoài.. Cùng với hoàn thiện hệ thống đê sông Hồng, các diện tích thấp hơn được khai thác.
Nho học và Phật giáo phát triển, ảnh hưởng sâu rộng đến giới quan lại và văn hóa ở những "làng" ven đô như: Ngọc Hà, Giảng Võ, Kim Liên .., nhưng riêng "Kẻ chợ", có thể nói, cho đến tận bây giờ, trải mấy chế độ, họ dường như ít chịu ảnh hưởng và cũng ít quan tâm đến chính trị.
Từ thời Lý đến trước thời Nguyễn, nơi đây là chốn Kinh Kỳ...!
(Kỳ sau: Đô Thị)

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Chém gió- Nhân chuyện Hà Nội chặt cây!

Hà Nội: KẺ CHỢ.., KINH KỲ.., ĐÔ THỊ và.., MỚ NỘM... THIU...!
Nếu vào Gô gừ, gõ bản đồ Sông Hồng ta sẽ thấy, con sông này về cơ bản đang chảy theo hướng Đông bắc-Tây nam, đến Hà Nội thì uốn hẳn về phía nam để đổ ra biển ở Thái Bình, thay vì Hải Phòng nếu vẫn chạy theo hướng cũ.
Tại Hà Nội, điểm uốn bắt đầu từ Đông Ngạc (Cầu Thăng Long) và cơ bản hoàn thành quá trình uốn ở Yên Sở (Cầu Thanh Trì).
Thế nên Lý Thái Tổ mới gọi đất này là bụng rồng.
Suy luận:
Ta dễ dàng suy luận rằng; con sông ở Hà Nội bây giờ chỉ là dòng chính, dòng thấp nhất của buổi sơ khai. Ở buổi sơ khai ấy, chắc chắn lòng sông rộng hẹp tùy vào con nước, mùa khô có thể tương đối như bây giờ (Dòng chính), mùa lũ thì lũ càng to, lòng sông càng rộng.
Tại khu vực Hà Nội bây giờ, vì là điểm uốn, nên cả khu nội thành cũ (Ba Đình-Hoàn Kiếm-Đống Đa-Hai Bà) đều là lòng sông khi lũ về, những điểm cao như núi Nùng, Ngọc Khánh... chỉ là những gò đống hiếm hoi, khi nước rút, khu ấy là những bãi hoang (Có người nói là những bãi sậy).
Vì khó canh tác nên con người ngày đó, (vốn còn rất ít), chỉ sinh sống ở những vùng cao hơn như Sóc Sơn, Mê Linh, Đan Phượng, Hoài Đức trở lên...
Khi chưa có tiền tệ, người ta chủ yếu trao đổi hàng hóa tực tiếp (Hàng-Hàng), giao thông ở miền núi chủ yếu là ngựa trên những con đường mòn, ở miền xuôi chủ yếu là thuyền bè theo sông rạch. Mỗi nhà làm ra một thứ hàng hóa chính, mỗi vùng cũng có những sản phẩm chính, rồi đem đổi cho nhau để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt; ăn, uống, mặc, chữa bệnh, làm nhà...
Lớn nhất Bắc bộ, sông Hồng nối vùng núi; Yên Bái, Tuyên Quang, Phú thọ, Hòa Bình với đồng bằng; Hải Hưng, Nam Định.. và miền biển; Thái Bình, Nam Định... Thế nên chắc hẳn đã thành con đường lưu thông hàng hóa chủ yếu.
Cái điểm uốn của con sông (cũng là con đường lưu thông hàng hóa ấy-Hà Nội) là nơi gặp gỡ của lâm thổ sản từ miền núi xuống và nông, thủy, hải sản từ biển lên..., Cái chợ nổi ngẫu nhiên hình thành.
Buổi ban đầu có lẽ nhà nào có hàng thì tự đi trao đổi lấy.., thế rồi họ nhờ nhau, gửi nhau mà thành những chuyến thuyền lớn dần, chuyên dần...
Vì chưa có tiền tệ, vì không phải chuyến nào cũng có thể đổi được hết hàng.., những chuyến "Ế" ít thì dễ chấp nhận, người ta phải quay về, nhập thêm hàng để đi chuyến khác.., những chuyến ế nhiều sẽ buộc họ phải suy tính...
Thế là từ một chuyến hàng ế nào đó người ta nghĩ ra giải pháp làm cái lều tạm, chất hàng lên đấy rồi cử một người ở lại tiếp tục trao đổi, con thuyền và số người còn lại quay về chở chuyến khác.
Việc hay, tiện, hiệu quả sẽ được học tập làm theo nhanh chóng...
Thế là hình thành cái chợ đầu mối đầu tiên.., thế là dần dần hình thành tính chuyên nghiệp; chuyên gom, chuyên chở, chuyên bán...
Những điểm cao được tận dụng, cùng với bồi đắp của con sông, những người "Chuyên bán" định cư hẳn, làm nhà cửa vững chắc hơn và hình thành lớp người "Hà Nội gốc", Cũng có nghĩa, những cư dân gốc này, lúc đầu chỉ làm mỗi việc nhận hàng và bán hàng, nhận của miền xuôi, bán cho miền ngược và ngược lại.
Những khu bán hàng tập trung, tiền thân của các "phố hàng" Rươi, Muối, Mắm, khoai, tre... được hình thành.
Hàng hóa phát triển, buôn bán phát triển, những người thợ từ các đất nghề cũng đổ về lập xưởng chế biến và bán tại chỗ.., tiền thân của các "Phố nghề"; Rèn, Đúc, Kim hoàn...cũng được hình thành.
Tiếng "Kẻ chợ" có lẽ bắt nguồn từ đấy...